Vì vậy, tôi sẽ kể chuyện khi tôi làm trợ lý tác chiến Sư đoàn 471, Bộ tư lệnh Trường Sơn đi với Phó tư lệnh Phạm Lê Hoàng.

Phó tư lệnh Sư đoàn Phạm Lê Hoàng người dân tộc Tày - Cao Bằng. Năm 1945 giành được chính quyền, ông đã là chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Ông lấy công việc làm trọng, không thích dài dòng, xu nịnh. Nhưng ông cũng rất tinh tế, công bằng. Khi Sở chỉ huy sư đoàn từ Bến Giằng chuyển ra Đường 9 khu Tân Lâm-Đầu Mầu bên dòng sông Trinh Hinh (một nhánh của sông Hiếu, Quảng Trị-PV), ngày 14-10-1974, bộ phận cuối cùng do Phó tư lệnh Phạm Lê Hoàng chỉ huy mới đi. Trên xe có ông, lái xe, công vụ Nam và tôi. Xe qua ngầm sông Bung, ông bảo lái xe dừng lại. Ông xuống xe bước vội vào trạm điều tiết giao thông. Biết ông có cuộc đàm thoại, tôi vội vàng bảo Nam lấy chiếc máy TA57 để tôi đem tới mắc cho ông nói chuyện. Ngày ấy các máy lẻ mắc trên đường hoặc cấp phát cho các đơn vị thường là máy kém chất lượng, không có bộ phận khuếch đại. Vì vậy, mỗi khi có chuyến công tác cùng ông, tôi đều nhắc Nam tháo máy TA57 của Liên Xô đàm thoại rất tốt mang theo.

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Nguyễn Kim Chúc và các cháu. Ảnh: Tuấn Tú. 

Mang máy tới đã thấy phó tư lệnh căng thẳng, cự nự ai đó ở đầu dây. Thấy tôi mang máy đến, ông để tôi thay máy và nhắc tôi hỏi xem đầu dây bên kia là ai, ở đơn vị nào. Tôi quay máy, đầu dây có tiếng vọng lại nhỏ và nhiễu.

- Xin hỏi ai ở đầu dây? Tôi hỏi.

- Tướng đây!

- Đồng chí tên gì? Tôi lại hỏi.

- Tôi tên là Tướng đây.

Thì ra phó tư lệnh bực vì đầu dây bên kia xưng là Tướng đây. Tôi nghĩ: Tính ông là vậy, nghiêm túc, rành mạch rõ ràng, có thể ông nghĩ cánh lính trêu ông.

Sau một hồi trao đổi, tôi buông máy báo cáo:

- Báo cáo thủ trưởng, người ở đầu dây tên là Tướng (sự thực đồng chí ấy quê miền trong, tín hiệu lại nhiễu do mưa to gió lớn, đồng chí ấy là Tương hay là Tướng tôi cũng không nghe rõ. Song nghĩ thủ trưởng có lẽ bực vì nghe là Tướng nên tôi báo cáo vậy).

Thấy ông đã đỡ căng thẳng, tôi nói tiếp:

- Đồng chí ấy đang ở chốt canh dây, phía ngoài đường dây gặp sự cố do mưa bão, hiện đang đi khắc phục, sửa chữa.

Ông không nói gì, lẳng lặng về xe. Tôi tháo máy đi cùng ông…

Buôn Ma Thuột được giải phóng. Bộ tư lệnh 471 được giao tiếp quản khu Sư đoàn 23 ngụy ngay sát Đường 14. Buổi sáng một ngày đầu tháng 4-1975, Phó tư lệnh Phạm Lê Hoàng gọi tôi đi theo ông. Tôi vội thắt bao súng bước theo, qua Đường 14 vào khu nhà thờ đối diện với cổng chính doanh trại Sư đoàn 23 ngụy. Vừa qua đường chừng 50m chuẩn bị bước lên sân nhà thờ, bất ngờ có 5 người mặc áo tu sĩ từ căn nhà phía trái bước ra mời chúng tôi vào nhà. Thì ra đây là căn phòng tiếp khách, trong phòng đã có hai vị mặc áo tu hành ngồi ở đó. Quá bất ngờ vì từ phía doanh trại Sư đoàn 23 ngụy không nhìn thấy căn phòng này. Ông và tôi miễn cưỡng theo họ. Quả thực tôi không nhận biết được chức sắc của họ. Ba vị lớn tuổi mời phó tư lệnh ngồi, rót trà mời ông. Tôi cảnh giác ngồi phía ngoài cũng có ý canh chừng. Phó tư lệnh vui vẻ chuyện trò cùng họ. Các vị trẻ hơn rót trà mời tôi và bắt chuyện.

- Chúng tôi biết các ông sẽ thắng trong cuộc chiến này. Một tu sĩ ngồi đối diện với tôi bắt chuyện.

- Các ông không nên nói như vậy. Tôi cắt lời rồi nhìn thẳng vào họ, tôi tiếp - Chúng ta đều là người Việt Nam, không thể nói dễ dàng người này thắng người kia và đằng sau đó là những mất mát của người Việt mình. Trách nhiệm của chúng ta là giải phóng, thu non sông về một mối. Đó là độc lập dân tộc, tự do dân chủ cho người dân. Điều đó đã được thể hiện rất rõ trong cương lĩnh chính trị của Mặt trận giải phóng...

Thấy căng, họ chuyển chủ đề. Một tu sĩ rót nước mời tôi. Vừa rót nước anh ta vừa nói như tự hỏi, vừa như có ý thăm dò tôi:

- Không hiểu giải phóng rồi còn được nghe nhạc Phạm Duy nữa hay không đây?

Họ lặng yên có ý chờ tôi lên tiếng. Quả thực lúc ấy tôi đâu có biết cặn kẽ về nhạc Phạm Duy như bây giờ. Chỉ nhớ những đêm thanh vắng mở đài Sài Gòn nghe mục: Phát thanh chiêu hồi những ca từ của Phạm Duy cũng lay động lòng người. Theo mạch nguồn cũ, tôi đáp:

- Tôi hiểu rõ câu hỏi của ông. Tôi phải nói rõ hơn mục đích của chúng tôi là độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, thống nhất đất nước. Ai phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thì sẽ được ghi nhận và trọng dụng. Đi ngược lại sẽ bị đào thải. Cái gì có lợi cho dân, cho nước thì sẽ được giữ lại, cái gì không còn phù hợp thì sẽ phải bỏ đi…

Và rồi tôi xa Phó tư lệnh Phạm Lê Hoàng từ tháng 3-1976. Tôi về học tại Trường Đại học Kinh tế-Kế hoạch (nay là Trường Đại học Kinh tế quốc dân) diện bộ đội gửi học. Còn ông ở lại, được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 471 làm kinh tế ở Tây Nguyên. Năm 1979, ông về làm tư lệnh một sư đoàn bộ binh thuộc Quân khu 1, tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Ông nghỉ hưu tại thị trấn Nước Hai, Cao Bằng. Giờ thì ông đã đi xa do tuổi cao sức yếu. Và tôi thì kể mấy câu chuyện nhỏ này để tưởng nhớ về ông-người thủ trưởng kính mến! 

NGUYỄN KIM CHÚC