Năm 1972, bằng nhiệt huyết và lòng quyết tâm, chàng trai Nguyễn Đăng Dũng lên đường nhập ngũ. Tháng 3-1973, anh được thăng quân hàm từ binh nhì lên binh nhất, giữ chức vụ Tiểu đội phó Tiểu đội 12, Trung đội 12, Đại đội 91, Đoàn 2080 hành quân vào chiến trường miền Nam. Đến Tây Ninh, Đoàn 2080 tiếp tục được lệnh chi viện cho chiến trường miền Tây Nam Bộ. Ông Dũng nhớ lại:

- Mùa nước nổi năm 1973, đơn vị hành quân từ trạm Nam Thái Sơn (trên tuyến đường N2 nối xuống Quốc lộ 80 đoạn Rạch Giá đi Hà Tiên) đến trạm Tràm Dưỡng (khu vực kênh Mỹ Lâm, Tân Hội, Tràm Dưỡng là khu rừng tràm thuộc xã Mỹ Phước, huyện Hòn Đất, nhưng lại nằm giáp ranh với huyện Tân Hiệp). Xuất phát từ lúc 1 giờ 30 phút chiều hôm trước mà tiểu đội trinh sát chúng tôi mãi đến 10 giờ sáng ngày hôm sau mới đến bìa rừng trạm Tràm Dưỡng.

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Nguyễn Đăng Dũng cùng vợ và cháu nội. 

Sau gần một ngày một đêm hành quân, từ đầu đến chân toàn bùn đất, nhiều chiến sĩ mệt mỏi nằm thả mình trong nước, đầu gác lên ba lô nghỉ ngơi. Chiến sĩ Phan, người Tầm Xá, Đông Anh lôi từ đáy ba lô một bao thuốc lá Sa Pa (bao thuốc đã theo anh nửa năm trời từ Hà Nội). Bóc bao thuốc mời mỗi người một điếu và châm lửa cho mọi người, từ một người ít nói, nhưng lúc ấy Phan lại tâm sự về những nỗi nhọc nhằn của người dân ngoại thành như gia đình Phan vào những vụ màu, cứ 1-2 giờ sáng phải đưa rau sang trung tâm Hà Nội bán và tối mịt mới về đến nhà... Sau đó, đơn vị vào trạm kiếm chỗ mắc võng tăng ngủ.

Sáng hôm sau, gần 7 giờ, Nguyễn Đăng Dũng và mọi người dậy nấu cơm và bắt ốc để nấu ăn. Dũng cầm con dao găm duy nhất của tiểu đội, lội nước ra bìa rừng để chặt mấy cây tràm làm giá ngồi ăn cơm. Anh gọi Xã Xệ (cũng quê Đông Anh, cùng tiểu đội) ra để kéo tràm về. Vừa vung dao chặt cây thứ hai thì địch pháo kích đúng đội hình tiểu đoàn. Lúc ấy, lực lượng của tiểu đoàn bảo vệ đường dây K6 và trạm đánh trả. Bộ đội dùng súng 12,8mm bắn rơi chiếc máy bay chở chỉ huy sở hành quân của địch gồm một sư đoàn phó và hai trung đoàn trưởng. Địch điên cuồng gọi pháo từ các chi khu xung quanh bắn như đổ đạn vào khu rừng tràm. Vừa bắn chúng vừa dùng máy bay trực thăng bay trên đầu gọi tên, quê quán, tuổi tác của từng người lính quê Hà Nội ra hàng. Ông Dũng hồi tưởng lại:

- Loạt pháo đầu tiên bắn căn tọa độ, Xã Xệ đã bị thương nhẹ. Tôi bảo Xệ chạy về trước, tôi mò tìm con dao găm rồi theo về. Khi chạy đến nơi mắc tăng, võng, tôi thấy Phan nằm úp mặt dưới nước. Lật lên, Phan vẫn thở phào phào và bị một vết thương vào trán. Tôi gọi Trung đội trưởng Lợi, quê Thanh Hóa (người của Trung đoàn 1 lên nhận quân) để giúp sức băng cho Phan và khiêng Phan đặt lên giá ba lô. Lát sau thì Phan hy sinh. Tôi đang định tháo tăng võng tìm chỗ trú ẩn thì thấy Vân (chiến sĩ cùng tiểu đội) ngồi trên giá ba lô, Vân rên rỉ: “Dũng ơi, băng lại cho tao với, tao chết mất thôi”. Tôi kéo băng ở bụng Vân ra và rùng mình. Sau lớp băng là vết thủng ở bụng gần bằng cái miệng bát. Băng lại cho Vân, tôi cùng anh Ba, trung đội phó đưa Vân xuống hầm trú ẩn (sau này tôi được tin do vết thương bị nhiễm trùng, Vân đã hy sinh). Sau đó, tôi chạy về hướng đầm lầy có rất nhiều hầm. Chui vào một chiếc, tôi ngồi ngâm nước vừa đói vừa rét cho đến tối. 7 giờ tối, sau khi im tiếng súng, tôi lần về chỗ nấu cơm ban sáng, rất may nồi cơm vẫn còn, bốc vội nắm cơm nửa chín nửa sống vừa ăn vừa nhận lệnh lên đường. Hành quân được một đoạn, lệnh truyền xuống quay lại vì địch vây kín không qua được. Trận này, đơn vị tôi thương vong khá nhiều.

Đêm ấy, để giải vây, Trung đoàn 1 đã tổ chức đánh địch. Sư đoàn 21 địch rút quân về chờ tiếp viện. Sáng hôm sau, đơn vị tổ chức chôn cất tử sĩ và khi trời tối, tiếp tục hành quân về tới nơi tập kết của Trung đoàn thuộc huyện Long Mỹ, tỉnh Chương Thiện cũ (khu vực kênh ngang, kênh Vĩnh Viễn thuộc hai xã Lương Tâm và Vĩnh Viễn). Từ đây, những chiến sĩ của Tiểu đoàn quân Hà Nội chính thức nằm trong đội hình Quân khu 9.

Về đời thường, với tâm nguyện tri ân, cựu chiến binh Nguyễn Đăng Dũng là một thành viên tích cực của Quỹ “Mãi mãi tuổi 20” cùng tham gia đóng góp, vận động xã hội hóa công tác “đền ơn đáp nghĩa” và an sinh xã hội. Ông cùng đồng đội giúp đỡ thân nhân liệt sĩ tìm kiếm, quy tập và đưa hài cốt liệt sĩ là những người con Hà Nội và những người lính cùng đơn vị trong quá trình chiến đấu đã ngã xuống trên chiến trường miền Tây Nam Bộ trở về với quê hương.

Bài và ảnh: VIỆT HÀ