Đó là hai người lính quê Bác, khi về với đời thường đã nỗ lực vượt lên số phận, ghi những chiến tích mới...

leftcenterrightdel
Đôi bạn thương binh đặc biệt tại Chương trình tri ân liệt sĩ “Sâu nặng ân tình” được tổ chức ngày 22-7-2017, tại Hà Nội. Ảnh: PHÚ SƠN
KÝ ỨC MỘT THỜI HOA LỬA

Ngày 5-8-1964, bước vào tuổi 22, đang học lớp cuối cấp của Trường cấp 3 Nam Đàn, chàng trai trẻ Nguyễn Đăng Khoa quyết định gác lại ước mơ trở thành thầy giáo dạy Toán, viết bức huyết tâm thư xin tình nguyện nhập ngũ để được ra chiến trường. Sau thời gian huấn luyện, anh được biên chế về Binh trạm 44, Bộ tư lệnh 559 có nhiệm vụ mở đường, tiếp tế vũ khí, quân lương vào chiến trường miền Nam. Hỏi về kỷ niệm chiến trường, ông bảo nhiều lắm, nhưng có một kỷ niệm vui, đó là lần không bắn máy bay mà vẫn được khen. “Một lần tôi đi công tác, từ ngã ba Cam-pu-chia về miền tây Quảng Nam, phải vượt qua một quả đồi. Vừa leo đến đỉnh, đang thở dốc thì phát hiện hai chiếc trực thăng bay tới. Từ vị trí trú ẩn, tôi quan sát một chiếc đang bay rất gần, đến mức nhìn rõ cả tên phi công và bọn lính đang lố nhố bên trong. Hướng nòng súng về phía địch, trong đầu tôi thoáng băn khoăn: Bắn hay không? Nếu bắn, chắc chắn sẽ tiêu diệt được chiếc trực thăng này nhưng nguy cơ sẽ lộ con đường vận tải bí mật của ta. Sau khi cân nhắc, tôi quyết định rời tay khỏi cò súng. Hai chiếc trực thăng quần thảo, nhòm ngó một lúc rồi bay đi. Về đơn vị, tôi báo cáo toàn bộ sự việc và mặc dù không nổ súng vẫn được thủ trưởng khen là giữ nghiêm kỷ luật chiến trường”-ông Khoa nhớ lại.

Cuối năm 1968, trong một trận bom ác liệt, ông Khoa bị thương nặng ở mắt và phải chuyển về tuyến sau. Đến năm 1970, mắt ông mờ hẳn và kể từ đó, ông phải chiến đấu trên trận tuyến mới…

Đặng Sỹ Ngọc nhập ngũ sau Nguyễn Đăng Khoa vài năm. Ông chiến đấu ở nhiều chiến trường ác liệt, từ Trị Thiên sang đất bạn Lào, từ chiến sĩ bộ binh của Đại đội 2, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 90, Sư đoàn 324 đến pháo thủ phòng không của Đại đội 10, Tiểu đoàn 15, Trung đoàn 284, Sư đoàn 367. Đặng Sỹ Ngọc chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Trong nhiều lần cận kề sinh tử ấy, ông nhớ nhất sau lần bị thương cuối cùng, bị gãy tay, gãy chân và thủng bụng, phải chuyển ra Bắc điều trị. Khi dừng lại ở Đội điều trị 48 chừng mười ngày, ông được chứng kiến tình cảm đồng đội không bao giờ quên. Một chiến sĩ tuổi chừng 21-22, là sinh viên nhập ngũ năm 1971, sau một trận đánh ở Thành cổ Quảng Trị, bị thương nặng và cũng được chuyển về đội điều trị cùng lán với ông Ngọc. Anh được một nữ y tá trẻ tận tình chăm sóc. Biết mình không qua khỏi, trước lúc mất, anh chiến sĩ trẻ mắt ngấn lệ nhìn cô y tá, giọng thều thào: “Chừng này tuổi nhưng tôi chưa từng được hôn ai. Cô vui lòng tặng tôi một lần hôn được không?”. Cô y tá bàng hoàng, lúng túng, mắt nhòe đi, xúc động ghé sát má để nhận nụ hôn của người thương binh. Vài phút sau đó, anh đã trút hơi thở cuối cùng... Hình ảnh đó đeo bám tâm trí thương binh Đặng Sỹ Ngọc suốt cả cuộc đời.

leftcenterrightdel
Thương binh Nguyễn Đăng Khoa (phải) và thương binh Đặng Sỹ Ngọc về Thủ đô luôn bên nhau như hình với bóng. Ảnh: TRẦN HOÀNG 
PHI THƯỜNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG          

Về đời thường, bị mù hai mắt, tỷ lệ thương tật hơn 90% nhưng thật đáng kinh ngạc, thương binh Nguyễn Đăng Khoa vẫn có thể cùng lúc chơi được tới 4 loại nhạc cụ: Miệng thổi kèn ác-mô-ni-ca, tay chơi măng-đô-lin, hai chân sử dụng bộ gõ, mình ông có lúc giữ vai trò của cả dàn hợp xướng. Ông tự mày mò chế tạo một “dàn nhạc” cho riêng mình. Đàn cầm tay, kèn ác-mô-ni-ca gắn trên tay cầm của đàn, chỗ vừa với vị trí của miệng. Chân trái của ông “đảm trách” nhiệm vụ của một tay trống khi gắn dưới dép một chiếc dùi. Chân phải có nhiệm vụ đánh “xập xèng” phụ trợ. Khi đã thành thạo, các nốt nhạc cũng hòa quyện vào nhau hơn. Một mình ông làm thay công việc của 4 nhạc công để phục vụ anh em công nhân trên các công trường, phục vụ bà con nhân dân lao động.

Đặc biệt nữa, ông còn là “giáo làng” với các lớp học tình thương ở quê xã Nam Lĩnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Mặc dù giáo án là do… tưởng tượng nhưng hàng trăm lượt học sinh ở các cấp học đã được ông dạy dỗ từ môn Toán đến Văn, Sử…, hơn chục em đã vào đại học. Ông kể: “Ngày xưa, tôi học hết lớp 10 rồi mới đi bộ đội. Đã một thời gian khá dài nhưng tôi vẫn nhớ các kiến thức đã học. Cái nào quên hoặc kiến thức nào mới thì tôi lại nhờ vợ mình đọc đi đọc lại nhiều lần rồi tìm cách giải. Môn học chủ yếu tôi củng cố kiến thức cho học sinh là môn Toán, mà chủ yếu là Hình học-môn học đòi hỏi nhiều sự tưởng tượng và suy luận logic. Tôi nhờ một em học sinh học lực khá nhất lớp làm “trợ giảng”. Học sinh đọc đề bài để tôi nghe rồi “vẽ” hình trong đầu sau đó tôi hướng dẫn em “trợ giảng” vẽ lên bảng rồi hướng dẫn cách giải cho cả lớp”.

Điều đáng mừng là các em được ông kèm cặp, dạy dỗ đều có học lực khá. Trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, cơ bản các em đậu vào các trường THPT công lập của huyện; nhiều em đã vào đại học.

Hoàn cảnh của thương binh Ngọc khác với ông Khoa. Năm 1992, ông Ngọc viết đơn xin rời đoàn an dưỡng để về sống với gia đình. Được vợ chăm lo, động viên chu toàn, ba con ngoan ngoãn, học giỏi, các vết thương của ông tạm thời ổn định. Khi tích cóp được ít tiền, ông bắt đầu đi tìm đồng đội, cả người sống và hài cốt các liệt sĩ ở khắp nơi, tới những vùng đất có những người mẹ, người em đã từng cưu mang mình. Trong các chuyến đi ấy, ông đã tìm được nhiều mộ chính xác và báo về cho các gia đình liệt sĩ.

Để có tiền trang trải cho những chuyến đi và phụ giúp gia đình, thương binh Đặng Sỹ Ngọc còn ra đường chạy xe ôm. Cho đến một ngày, ông gặp một trường hợp lái xe ẩu, sau khi uống rượu bia, anh ta đâm vào xe của ông. Ông may mắn thoát chết, chỉ có đôi chân lại bị gãy thêm lần nữa. Sau lần đó, vợ con kiên quyết không cho ông chạy xe nữa.

Người thương binh ấy lại lao vào viết sách, báo. Tên ông đều đặn xuất hiện trên các báo của Trung ương, địa phương. Ông  còn cho ra mắt ba tập sách đầy đặn: “Trời xanh không biên giới”, “Dưới tầm đạn cầu vồng” và mới đây là “Ký ức với đồng đội và quê hương”…

Thương binh Nguyễn Đăng Khoa và Đặng Sỹ Ngọc đều ở quê Bác, gắn bó với nhau từ ngày còn ở Khu Điều dưỡng thương binh 4 (Nghi Lộc, Nghệ An) đầu thập niên 1980 cho đến nay. Họ là những thương binh điển hình, thực hiện xuất sắc lời Bác dạy: Thương binh tàn nhưng không phế. Ông Khoa đã từng được giải đặc biệt toàn quốc trong cuộc thi tìm hiểu về tư tưởng, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 55 giải thưởng, huy chương, bằng, giấy khen các loại trong các hội diễn, thi tìm hiểu ở các cấp. Ông Ngọc cũng từng đạt Giải Ba toàn quốc trong cuộc thi viết “Sáng danh truyền thống Bộ đội Cụ Hồ”, giải cao trong đợt viết kỷ niệm sâu sắc về cựu chiến binh tỉnh Nghệ An. Ngày thương binh Đặng Sỹ Ngọc được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ thì thương binh Nguyễn Đăng Khoa cũng được tỉnh Nghệ An tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”…

Lần này ra Hà Nội, ông Khoa là người duy nhất có bài dự thi viết bằng chữ nổi; ông Ngọc được tôn vinh là một trong mười nhân vật tiêu biểu trong cuộc thi “Sâu nặng ân tình” do Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam, Báo Cựu chiến binh Việt Nam, Công ty Cổ phần Tập đoàn Thái Bình Dương đồng tổ chức. Họ vẫn đi với nhau như hình với bóng, người nhìn, người nghe, hỗ trợ cho nhau nhịp nhàng, thân thiết.

Ôi! Một thế hệ anh hùng trong lửa đạn vẫn đang hiện hữu quanh chúng ta đây, sao gần gũi, dung dị mà thiêng liêng, cao quý đến thế…

PHI LONG