Nhưng chốn hiểm nguy lường

chẳng được

Đâu bằng thói tục với nhân tâm!

Là con trai trưởng của Hoàng giáp Ngô Thì Sỹ, Tiến sĩ khoa thi năm 1775 của triều Lê: Ngô Thì Nhậm, chính là người đã lường được thói tục và nhân tâm thâm hiểm của vua quan nhà Thanh, khi vào cuối năm 1788, phóng 29 vạn đại binh, giao cho Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy, lấy danh nghĩa “Phù Lê diệt Tây Sơn”, tràn sang xâm lược nước Việt.

Bấy giờ, thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Huệ đang ở trong Phú Xuân (Huế). Ngoài Bắc Hà, chỉ có chưa đầy một vạn quân Tây Sơn phòng giữ, giao cho các tướng thân tín: Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết…, hiệp với Ngô Thì Nhậm-vừa từ bỏ triều đình Lê Trịnh hủ bại, đi theo Tây Sơn và được Nguyễn Huệ vừa đánh giá vừa giới thiệu với các tướng lĩnh thân tín của mình là “bề tôi, đồng thời là khách của ta, thuộc dòng dõi văn học Bắc Hà, hiểu biết rất nhiều việc đời”-phụ trách.

Ngày 25-11-1788 (28 tháng Mười năm Mậu Thân), đại quân nhà Thanh từ Quảng Tây ồ ạt vượt biên vào cõi nước Việt, được vua hèn Lê Chiêu Thống và các cựu thần ngu trung nhao nhao chào đón. Trong khi đó, chỉ có dưới cờ một nghìn quân, nhưng tướng Tây Sơn Phan Văn Lân vẫn hùng dũng vượt nước sông Cầu giá buốt vào ngày 12-12-1788 (rằm tháng Mười một năm Mậu Thân), đón đánh, tuy bị tổn thất nặng nề.

Trước tình thế khó khăn, tướng Ngô Văn Sở triệu tập gấp một cuộc họp bàn ở tòa điện Nghị Đường trong Hoàng thành Thăng Long, tìm cách đối phó. Vào cuộc họp bàn, tất cả các quan tướng Tây Sơn đều vẫn chủ trương quyết đánh, với lý do: “Chúa công (Nguyễn Huệ) về Nam, đem cả Bắc Hà này giao phó cho chúng ta. Giặc đến, tất phải sống thác với thành này mà đánh, để trên không thẹn là bề tôi giữ đất, dưới chẳng phụ với chức trách cầm quân!”.

Chỉ có Ngô Thì Nhậm là người thẳng thắn và khách quan, sáng suốt phân tích và đề xuất: “Trong phép dùng binh, có đánh và có giữ. Nhưng lúc này thì đánh chẳng được, mà giữ cũng không xong. Cho nên chỉ còn một cách: Sớm truyền cho toàn quân, chỉnh đốn khí giới, mang đủ lương thảo, mở cờ gióng trống, không cho địch biết đi đâu, nhưng là lui hết về Tam Điệp “giữ chắc lấy chỗ hiểm ấy, sau đấy mới cho người về (Phú Xuân) bẩm với chúa công. Chờ xem quân Thanh khi nhập đô cư xử ra sao, vua Chiêu Thống được khôi phục thì quân mưu quốc kế thế nào. Lúc ấy, đợi chúa công (từ Phú Xuân) ra, ta sẽ đánh cũng chưa muộn!”.

Và lại còn tự bình luận kế sách của mình: “Tướng giỏi đời xưa, phải lượng thế giặc mà đánh. Có nắm chắc phần thắng mới đánh. Theo thế mà lập mưu, giống như đánh cờ vậy. Trước, dẫu có nhịn người một nước đi nữa, thì sau sẽ hơn người một nước. Rồi đem nước sau làm nước trước, thế mới là cờ cao. Nay ta bảo toàn quân lực mà rút lui, cho giặc vào Thăng Long ngủ trọ một đêm, rồi lại đuổi đi. Cũng như ngọc bích của nước Tấn, đem cho nước Ngô, rồi lại về nước Tấn, có mất gì đâu?”.

Đó là một kế sách không thể hay hơn. Càng hay, khi được tài ăn nói của Ngô Thì Nhậm diễn đạt thành một “nước cờ”! Cho nên, “Nước cờ Tam Điệp” ấy đã chẳng những dễ dàng thuyết phục được Bộ chỉ huy quân Tây Sơn ở Bắc Hà, mà còn lập tức được đem thi hành ngay.

Vậy là, chỉ đến ngày 20 tháng Mười một năm Mậu Thân (17-12-1788), quân Tây Sơn đã từ Thăng Long rút cả về đến Tam Điệp. Và dàn quân, đóng chốt ở tất cả những nơi hệ trọng, hiểm yếu của vùng đèo núi chiến lược này, chặn cứng tất cả các lối ngả từ Bắc Hà vào Thanh-Nghệ và Thuận Hóa-Phú Xuân, qua Tam Điệp.

Từ hôm ấy cho đến ngày 20 tháng Chạp (15-1-1789), khi Quang Trung Nguyễn Huệ dẫn đại binh Tây Sơn từ Phú Xuân-Thuận Hóa, qua Nghệ An-Thanh Hóa, ra tới Tam Điệp, thì vùng đèo núi giữa Ninh Bình và Thanh Hóa này, đã đích thực-trong vòng một tháng trời-trở thành đúng như cái tên vốn được quen gọi: Phòng tuyến Tam Điệp!

leftcenterrightdel
Minh họa: Anh Khoa 
2. Ngay khi vừa đặt chân đến Tam Điệp, Quang Trung Nguyễn Huệ đã trước hết ban lời đánh giá cao và khen ngợi “Nước cờ Tam Điệp” bằng những câu chí tình chí lý: “Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của giặc, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ, rút về giữ chỗ hiểm yếu, bên trong thì khiến lòng quân phẫn khích, bên ngoài thì khiến lòng giặc kiêu căng, đó là một kế rất hay! Khi (còn ở Phú Xuân) mới nghe việc, ta đoán là Ngô Thì Nhậm chủ trương. Lúc hỏi đến Nguyễn Văn Tuyết (chạy ngựa từ Tam Điệp về Phú Xuân cấp báo) thì quả đúng như vậy!”.

Nhưng câu nói liền đấy, tiếp theo, còn quan trọng hơn và mới chính là câu nói đúng vào và về vị thế của Tam Điệp, từ đây, lúc này: “Nay ta tự tới đây, thân đốc suất việc binh nhung, chiến thủ ra sao, phương lược đã tính sẵn hết cả rồi. Chỉ nội mươi ngày là quét sạch giặc Thanh thôi!”.

Vậy là có “mươi ngày”-kể từ ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15-1-1789)-để Tam Điệp, từ chỗ là “phòng tuyến” ở thời gian một tháng trước đấy, nay trở thành căn cứ xuất phát, bàn đạp tiến công của đại quân Tây Sơn, dưới quyền tổng chỉ huy của Quang Trung Nguyễn Huệ, rồi sẽ mở Chiến dịch giải phóng Thăng Long (còn được gọi là “Chiến dịch Ngọc Hồi-Đống Đa”) “quét sạch” 29 vạn quân Thanh xâm lược ra khỏi bờ cõi-như đúng lời vị hoàng soái Tây Sơn nói.

Lực lượng đại quân Tây Sơn tập kết ở Tam Điệp, trong mười ngày cuối tháng Chạp năm Mậu Thân (từ 15 đến 25-1-1789) ấy, theo “phương lược đã tính sẵn” của Quang Trung Nguyễn Huệ, gồm toàn là quân bộ, có tượng binh, kỵ binh và pháo binh đi kèm, làm thành hai cánh: Trung quân và Tả quân của chiến dịch. Trung quân do chính Quang Trung Nguyễn Huệ chỉ huy, có tiên phong là lực lượng phòng giữ Bắc Hà trước đấy-chính là đạo quân do các tướng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân… phụ trách, một tháng trước đã từ Thăng Long về chốt giữ “phòng tuyến Tam Điệp” và hậu quân, giao cho Hô Hổ hầu (Hám Hổ hầu) phụ trách. Đây là cánh quân chủ lực, rồi sẽ hành tiến-tấn công dọc đường “Cái Quan” (Quốc lộ 1) đánh trực diện vào đại quân nhà Thanh ở Thăng Long. Tả quân gồm hai đạo. Một, do đô đốc Bảo chỉ huy, sẽ hành tiến-tấn công song song với Trung quân, nhưng chếch về mạn tây mà tác chiến phối hợp với Trung quân. Đạo quân thứ hai, do đô đốc Long (đô đốc Mưu) chỉ huy, sẽ đi vòng xa hơn nữa về phía tây, theo đường “Thượng đạo” (Đường Hồ Chí Minh ngày nay) mà đánh vu hồi vào mé sau tổng hành dinh địch.

Đấy là binh lực Tây Sơn bố trí ở Tam Điệp. Còn ở vùng bờ biển Biện Sơn (Nghi Sơn-Tĩnh Gia, Thanh Hóa), thì đấy là căn cứ thủy quân của cánh Hữu quân, gồm hai đạo-giao cho đô đốc Tuyết và đô đốc Bảo chỉ huy-đi đường biển, tiến ra vùng Hải Dương và Bắc Giang, chặn đường tháo chạy về nước của giặc.

Trở lại với Tam Điệp. Là người trực tiếp làm tổng chỉ huy cả hai cánh Trung quân và Tả quân tập kết ở đây trong mười ngày giáp Tết, trước khi ra lệnh xuất kích vào đúng đêm Giao thừa, tin chắc mười mươi vào “phương lược đã tính sẵn” và “phương thức bài binh bố trận” của mình, Quang Trung Nguyễn Huệ còn có một động tác văn hóa quân sự, kèm với lời động viên tinh thần quân sĩ hết sức độc đáo nữa. Đó là: “Ăn Tết trước”, với câu căn dặn: “Nay hãy tạm ăn Tết trước (tại đây). Đợi đến sang xuân, ngày mồng 7 (là Tết Khai Hạ), vào (được) thành Thăng Long (giải phóng), sẽ lại mở yến tiệc (ăn Tết nữa)! Các ngươi hãy ghi nhớ lời này của ta, xem có đúng không?”.

Và, khao quân nhưng vẫn không quên luyện quân. Trong các thung lũng Tam Điệp, hiện vẫn còn những dấu tích và địa danh: Gò Hỏa Hổ, gò Thần Công, thung Quần Ngựa, gò Cây Chuối… Đó là những nơi “tranh thủ” tiếp tục luyện tập pháo binh, kỵ binh. Còn “gò Cây Chuối” thì, khi ấy là nơi có cả một rừng chuối dại, để bộ binh rèn luyện động tác “chém địch như chém chuối”.

Tam Điệp, càng rõ nét là vùng căn cứ xuất phát-bàn đạp tiến công, ở vào thời gian 10 ngày giáp Tết Kỷ Dậu (1789), với những dấu tích và sự tích ấy.

3. Còn có cả những dấu tích và địa danh nữa ở Tam Điệp, như: Gò Cắm Cờ, gò Án Thư… Kèm với lời giải thích của truyền thuyết: Đó là nơi đóng hành dinh của Quang Trung Nguyễn Huệ, và là nơi bộ phận văn thư soạn thảo các điều từ lệnh của Tổng chỉ huy!

Phù hợp với sự thể này, ở trong các bộ sử cũ, còn thấy chép được một câu nói nữa của Quang Trung Nguyễn Huệ, cũng vào thời gian 10 ngày giáp Tết Kỷ Dậu (1789), ở tại căn cứ xuất phát-bàn đạp tiến công Tam Điệp. Ấy là, tiếp ngay sau lời khẳng định: Chỉ trong vòng mươi ngày là quét sạch được giặc Thanh xâm lược ra khỏi cõi bờ, thì đó là câu (nguyên văn): “Ta nghĩ chúng nó là nước lớn, gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm hổ thẹn mà cố sức báo thù. Như thế, việc binh đao không bao giờ dứt, thật không phải phúc cho dân, lòng ta không nỡ làm vậy. Cho nên, đến lúc đó, chỉ còn một cách là dùng lời lẽ khéo léo thì mới ngăn được cái họa chiến tranh (kéo dài) thôi!”.

Thật là những lời lẽ của một tấm lòng nhân hậu, một tư tưởng yêu chuộng hòa bình truyền thống của dân tộc, một tầm nhìn xa rộng và cao đẹp, một tiên liệu chu đáo và xuất sắc, một chủ trương cụ thể về phương thức ngoại giao hòa bình, ngay vào lúc mới sửa soạn mở cuộc chiến tranh với niềm tin tất thắng!

Những lời lẽ đặc sắc này, Quang Trung Nguyễn Huệ sẽ còn nhắc lại lần nữa, ở Thăng Long, với Ngô Thì Nhậm-tác giả của “Nước cờ Tam Điệp”, đồng thời là người được chính thức trao trách nhiệm chủ trì việc ngoại giao hòa bình với nhà Thanh-khi thắng lợi của Chiến dịch giải phóng Thăng Long đã thành hiện thực rực rỡ: “Nay thì chúng đã thua trận rồi, nhưng tất lấy thế làm điều xấu hổ, quyết không chịu hòa đâu! Tuy nhiên, hai nước đánh nhau (mãi), cũng không phải là điều phúc cho dân. Cho nên chỉ có người giỏi văn chương từ lệnh thì mới ngăn được họa binh đao! Ngươi cần cáng đáng việc này!”.

Ngô Thì Nhậm, sau đấy rồi sẽ cùng với Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn…, thực hiện thành công tư tưởng và chủ trương siêu việt và quý giá của Quang Trung Nguyễn Huệ. Nhưng lịch sử thì mãi ghi nhận rằng: Tư tưởng và chủ trương ấy, đầu tiên, đã được hình thành, và tuyên ngôn, là ở Tam Điệp!

Như vậy, Tam Điệp-cùng với vị thế là “phòng tuyến”, là “căn cứ xuất phát và bàn đạp tiến công” của Chiến dịch giải phóng Thăng Long-vào cuối năm 1788, đầu năm 1789, còn là nơi hình thành và tuyên ngôn: Tư tưởng hòa bình và chủ trương ngoại giao hòa bình của thiên tài Quang Trung Nguyễn Huệ, và của dân tộc ta.

GS LÊ VĂN LAN