Trưa 30 Tết Mậu Thân-1968, anh Phan Thế Kiền quê huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh và tôi là lính trinh sát của trung đoàn nhận lệnh về xã Hải Tân (Hải Lăng, Quảng Trị) đón đồng chí Ngô Hoàng, Phó bí thư Huyện ủy Hải Lăng về sở chỉ huy tiền phương tổ chức vận động quần chúng đấu tranh vũ trang chiếm thị xã Quảng Trị trong đêm.

Nhiệm vụ gấp, phải đi ban ngày. Chúng tôi cải trang thành hai cô thôn nữ áo dài, nón trắng, AK báng gấp giấu trong người. Được du kích chỉ đường, chúng tôi luồn qua các bốt địch giữa trưa, đón được anh Ngô Hoàng. Bấy giờ, anh mặc áo dài thâm, khăn xếp, tay cầm mõ trong vai thầy cúng. Chúng tôi tới thôn Đa Nghi, xã Hải Ba thì phát hiện phía trước có đông lính bảo an súng ống lố nhố. Giữa đồng không mông quạnh, chạy thì lộ, dừng lại cũng sẽ lộ. Ba anh em đang phân vân, chợt thấy mấy cháu trạc 10-12 tuổi đang dồn đàn trâu gần đó, trong tích tắc chúng tôi ngoắc các em lại, làm ký hiệu. Nhận ra người mình, các em nhanh chóng dồn đàn trâu lại, lùa vào giữa đội hình địch. Chúng lập tức nổ súng và hô: “Bắt sống Việt Cộng... bây… bây… bắt sống… bắt sống”. Nhanh như chớp, lợi dụng đàn trâu mấy chục con lồng lộn trước mặt địch, chúng tôi nhảy xuống mương nước vừa đánh trả địch, vừa yểm hộ lẫn nhau vọt lên chiếm vị trí có lợi, khống chế ghìm chân giặc, không cho chúng lại gần. Anh Kiền bất ngờ bị dính đạn, gãy xương đùi. Anh kêu: “Chớ! Mình gãy chân rồi”. Tôi nhìn sang, máu anh chảy đỏ chiếc quần soa trắng. Kiền nghiến răng chịu đau, ép mình lên bờ mương, quất từng điểm xạ ngắn về phía đối phương. Tôi xốc anh lên vai, anh Hoàng đỡ khẩu AK, tiếp tục kìm chân bọn địch. Những loạt đạn đanh sắc và chính xác của lính trinh sát chúng tôi khiến chúng không dám tới gần.

leftcenterrightdel
Tác giả (thứ hai, từ trái sang) tại Lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho liệt sĩ Hoàng Xuân. Ảnh do nhân vật cung cấp

Trời gần tối, nghe tiếng súng nổ dồn, du kích cơ sở ra ứng cứu. Chúng tôi giao thương binh lại cho du kích. Anh Kiền ứa nước mắt, nắm chặt tay hai anh em tôi. Sau đó, tôi đưa anh Hoàng về chỉ huy sở tiền phương. Lúc ấy là 20 giờ đêm 30 Tết.

Tiếp theo là những ngày cực kỳ gian khổ, chúng tôi được lệnh rút về giữ địa bàn tại phía tây huyện Hải Lăng, Triệu Phong, khu ngã ba Cưa, dãy cao điểm 367-205-105, động Ông Do, đồi Ông Chưởng… Bộ đội thương vong nhiều, không còn lực lượng đánh lớn. Chúng tôi đánh nhỏ, mục tiêu là giữ cho được địa bàn, trong khi địch tăng cường tìm hầm bí mật nhằm tìm giết số thương binh ta chưa kịp đưa ra.

Sáng 12 tháng Giêng Mậu Thân 1968, một đại đội lính dù Mỹ cùng một tiểu đoàn ngụy chia làm 4 mũi càn vào làng. Phía ta chỉ còn 4 trinh sát, gồm: Anh Nguyễn Bá Luận, quê Quỳnh Vinh, Quỳnh Lưu, Nghệ An (nay thuộc thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An), bị vỡ xương bánh chè gối phải; tôi vỡ xương chậu và hai trinh sát Tiểu đoàn 5 là anh Quy và anh Thu. Chúng tôi được du kích đưa xuống hầm, ngụy trang cẩn thận. Hầm làm trên đập ẩn sâu dưới đất, có 4 lỗ thông hơi bằng ống pháo sáng giấu kín dưới các khóm tre. Mấy anh em lo lắng, hồi hộp. Anh Luận và tôi đã vài lần ngồi hầm vùng địch kiểu này, anh Thu và Quy thì mới lần đầu, vẻ lo lắng lộ rõ. Anh Luận bảo: “Yên tâm! Chỉ vài giờ là bọn nó cút ấy mà, cứ vui như Tết đi”.

Bất ngờ, hàng loạt AR15 bắn vào các bụi cây, bờ chuối. Tiếng bọn Mỹ xì xồ với bọn ngụy. Bắt đầu cuộc lùng sục. Thời gian như ngừng trôi. Anh em nhìn nhau không nói. AK lên đạn sẵn sàng…

Hầm chúng tôi nằm dưới một doi đất hơi nhô lên. Địch đặt máy thông tin PRC25 ngay trên nóc hầm cùng chiếc chiếu cướp của dân dùng để đồ uống.

Tới 5 giờ chiều, do sợ bị tập kích, chúng rút lui. Bốn anh em tôi thoát hiểm. Riêng anh Quy bị ngạt, ngất đi, phải hô hấp một lúc mới tỉnh. Đêm đó, anh Hoàng Xuân, Chính trị viên kiêm Xã đội trưởng đã cho đưa hai đồng chí Quy và Thu sang hướng khác. Cô du kích Trương Thị Lựu băng bó vết thương cho anh Luận và tôi, sau đưa về nhà bố Lê Văn Tỉa, mẹ Trương Thị Thủy (gia đình cơ sở địch hậu) nuôi dưỡng. Hai em-con của bố mẹ là Lê Thị Vẻ 11 tuổi, Lê Thị Vang 9 tuổi, người nhỏ thó mà ngoan ngoãn và tinh nhanh hết mực, là tai mắt của cả nhà.

Chuẩn bị xong cho thương binh, Xã đội trưởng Xuân tổ chức cho du kích đánh càn. Địch quá đông, anh Xuân cùng hai du kích xuống chiếc hầm chúng tôi nằm chiều hôm trước.

Trận càn không hiệu quả, địch hậm hực lắm. Đến 3 giờ sáng 13 tháng Giêng âm lịch, chúng bí mật đưa một nữ chiêu hồi tập kích vào. Trong chốc lát, nữ chiêu hồi đã dẫn địch tới nơi, bật nắp hầm. Biết đã bị lộ, lợi dụng trời còn tối, các anh vọt lên. Ba khẩu AK bắn quét ngang ngực chúng, đồng thời thủ pháo ném ra xung quanh. Địch đổ vật, kêu oai oái. Một đồng chí du kích trúng đạn hy sinh. Anh Xuân và anh Tiến du kích bị thương rất nặng, bị chúng bắt.

Hoàng Xuân là một cán bộ trung kiên đã làm địch mất ăn mất ngủ nhiều năm nay. Anh từng chỉ huy du kích đánh nhiều trận, diệt nhiều địch. Mình anh bắn rơi 2 trực thăng, diệt 14 tên Mỹ. Địch treo giải ai bắt sống hoặc giết được Hoàng Xuân sẽ được thưởng 10 cây vàng. Nay bắt được anh, chúng hí hửng. Chúng dùng mọi ngón đòn tra tấn hòng ép anh cung khai nhưng anh nghiến răng chịu đựng đến khi gục xuống… Từ năm 1968 đến 1973, chúng đưa anh đi nhiều nhà tù. Nhờ tổ chức đánh tráo được hồ sơ khi chuyển nhà tù mà anh trở thành du kích tải thương mang tên người khác, tránh bị chúng thủ tiêu. Anh được trao trả tù binh năm 1973 tại Pleiku và ra Quảng Bình điều dưỡng. Đầu năm 1974, anh xin trở lại quê nhà chiến đấu. Trong một cơn đau dữ dội đột ngột, anh được đưa lên bàn mổ. Phim chụp hiển thị nửa chiếc panh-bị địch đưa vào ổ bụng trước đây, cùng đoạn ruột già hoại tử nặng. Do sức khỏe quá yếu, anh đã trút hơi thở cuối cùng.

Năm 2011, nhóm cựu chiến binh gồm Đại tá Cao Xuân Đại, Thượng tá Nguyễn Hữu Nhị và tôi-đều là lính trinh sát Trung đoàn 812-quay lại chiến trường xưa tìm đồng đội. Chúng tôi lật tìm tập hồ sơ địa phương và gia đình đã viết về Hoàng Xuân. Tôi làm nhân chứng trực tiếp và viết giấy chứng nhận gửi lên trên. Đến ngày 2-9-2012, Lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho liệt sĩ Hoàng Xuân được huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế tổ chức long trọng trong niềm vui và những dòng nước mắt chứa chan.

Sau này, tôi trở lại nhiều lần, cố tìm gặp những người đã cưu mang những chiến sĩ Giải phóng quân năm nào...

Nữ du kích Trương Thị Lựu, người chăm sóc vết thương cho tôi đã anh dũng hy sinh tháng 8-1968 tại xã Phong Chương (Phong Điền, Thừa Thiên-Huế). Bên kia sông Ô Lâu, xã Hải Trường (Hải Lăng, Quảng Trị), cơ sở cũ của chúng tôi, mẹ Phạm Thị Nữ không còn nữa. Chị Nguyễn Thị Chính, chị Lê Thị Thừa tóc đã hoa râm. Hai em Lê Thị Vẻ và Lê Thị Vang năm xưa nay đã là bà nội, bà ngoại, cứ nắm chặt cả hai tay tôi mà nước mắt ứa ra. Còn các cháu bé đã liều mình lùa đàn trâu chặn họng súng giặc vào chiều 30 Tết Mậu Thân để giải thoát cho chúng tôi, bao bà con cô bác đã không tiếc mạng mình cưu mang, che chở bộ đội trước họng súng quân thù, giờ này mọi người đang ở đâu, xin hãy chắp nối với chúng tôi để tìm lại!

(*) Nguyên toán trưởng trinh sát, mũi trưởng đặc công Trung đoàn 812

LÊ VĂN CHỚ (*)