Cuộc gặp gỡ như thiên định

Tháng 5-2008, trời nắng như đổ lửa. Hai đoàn cựu chiến binh, phía Bắc tập trung ở Hà Nội đi vào, phía Nam hội tụ tại TP Hồ Chí Minh đi ra, tổng số khoảng 700 người, hợp nhau ở Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn. Bỗng ông Nguyễn Ngọc Quỳnh (sinh năm 1952, quê làng Ô Cách, phường Đức Giang, quận Long Biên, TP Hà Nội) thấy một dáng đứng quen quen với ánh mắt tựa hồ như đã xót thương nhìn ông trong khói lửa đêm Quảng Trị năm xưa... “Nhưng chắc là không phải! Người mà mình cõng trên lưng, oặt oẹo như tàu lá chuối sau cơn bão lớn, không thể “qua” được sau cái đêm ác liệt ấy” - ông Quỳnh tự nhủ.

Trên đường đến thăm viếng Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9 và tiếp là Thành cổ Quảng Trị, theo đoàn xe bon bon, mải kể về chiến sự mùa hè “đỏ lửa” 1972 mà ông là một trong những nhân chứng sống, vậy mà ông Quỳnh vẫn canh cánh bên lòng cái dáng người và ánh mắt ấy. Rồi như có sự run rủi, sau khi làm lễ trước đài hương Thành cổ, quay sang lại thấy người ấy, ông Quỳnh không kìm được, hỏi: “Anh ở đoàn nào?”. “Gia Lai ạ!”. “Thế là mình nhầm thật. Anh Lược quê Hà Tĩnh cơ mà!” - ông Quỳnh ngẫm nghĩ.

Sau phần hai của chương trình chuyến đi (tham quan động Phong Nha-Kẻ Bàng), toàn đoàn liên hoan giao lưu tại nhà hàng lớn nằm ngay sát bến đò. 700 người, nhanh kín hết các bàn ăn. Gia đình ông Quỳnh nhường những mâm ở phía cửa cho các đại biểu lên sau, cùng vào sâu bên trong, chọn mâm cạnh cửa sổ, ngồi chờ thêm hai người nữa cho vừa mâm. Không ngờ, lại đúng ông dáng quen quen lúc trước cùng một người trẻ hơn nhưng nét mặt hao hao giống nhau, tiến thẳng vào hai ghế còn trống. Ông Quỳnh lại từ tốn: “Anh ở đoàn Gia Lai. Thế trước kia anh ở đơn vị nào?”. “Tôi ở e209, f312 (Trung đoàn 209, Sư đoàn 312)”. “Vậy anh ở tiểu đoàn nào?”... Đến lúc này thì bỗng như có ai thôi thúc, “ông Gia Lai” đứng phắt dậy: “Quỳnh hả! Có phải Quỳnh xê hai, dê bảy (Đại đội 2, Tiểu đoàn 7) không? Lược đây!”-ông chỉ tay sang người đàn ông ngồi cạnh - “Còn đây là chú An, em trai Lược, cùng tám mốt ngày đêm Quảng Trị đây!”. Ông Quỳnh lặng đi, ôm chầm lấy ông Lược, đôi dòng nước mắt chảy ướt bờ vai người bạn đã cùng ông hai lần dìu nhau, mình mẩy đầy máu me về trạm phẫu dã chiến của đơn vị, trong chiến dịch chống địch tái chiếm Thành cổ Quảng Trị mùa hè 1972. Không ngờ nay lại gặp được nhau! Mâm cơm bỏ dở, thay vào đó là những mừng mừng tủi tủi, hai ông bồi hồi ôn lại chuyện 36 năm qua...

leftcenterrightdel
"Đôi bạn Quảng Trị" Lê Văn Lược (bên phải) và Nguyễn Ngọc Quỳnh trong lần gặp mặt tháng 5-2018.

Ký ức khốc liệt

Đồi 34 nằm ở phía tây thị xã Quảng Trị, một trong những điểm tác chiến ác liệt nhất như: Mỏm Tân Tẹo, động Ông Gio, động Toàn, đồi Thông Cháy... Nơi đây, suốt 81 ngày đêm lịch sử mùa hè 1972, ta quyết tâm ngăn chặn quân địch tràn qua tái chiếm Thành cổ. Còn quân địch cũng liều mạng thí thân hòng giành lại. Bộ binh hai bên, với tiểu liên, thủ pháo... giành nhau từng tấc đất. Có chỗ bom đạn địch do máy bay A37 và pháo bầy từ các căn cứ của chúng giội vào chồng lên nhau tới mấy tầng.

Một đêm đầu tháng 7, Đại đội 1, Tiểu đoàn 7 (thuộc Trung đoàn 209, Sư đoàn 312, sau chiến dịch được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân) trực tiếp chiến đấu phòng ngự tại đồi 34. Trận đánh bắt đầu từ lúc 20 giờ. Bộ binh hai bên cách nhau thường chỉ 15-20m. Mờ sáng, quân ta hoàn toàn chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị rút quân về cứ để tránh bom và đạn pháo của địch ập đến. Lúc đưa bộ đội bị thương vong ra ngoài, Trung đội trưởng Lê Văn Lược gặp một chiến sĩ nằm ngất xỉu bên khẩu AK, anh vội xốc đồng đội lên vai, đưa về Bệnh viện 24 của Sư đoàn 312 cách đó chừng 200m đường chim bay. Hóa ra, người ấy là Nguyễn Ngọc Quỳnh, 20 tuổi, kém anh 4 tuổi, thuộc Đại đội 2, cùng Tiểu đoàn 7, trong số chiến sĩ chi viện cho Đại đội 1 sau mở màn trận chiến ít phút.

Quỳnh bị ngất do cố sức, được cấp cứu kịp thời, sức trẻ nhanh hồi phục, tiếp tục trở về đơn vị chiến đấu. Trong trận quyết chiến tại đồi Thông Cháy (tên do bộ đội ta đặt cho đồi cây thông bị bom đạn thiêu cháy) vào đêm hôm sau, chính Quỳnh lại cõng anh Lược bị thương nát phần mềm từ vai tới bắp chân bên phải về bệnh xá rồi quay lại tiếp tục chiến đấu.

Sau khi cấp cứu, ổn định vết thương, Lược được chuyển ra Bệnh viện Quân y 46 ở Hà Tĩnh để điều trị. Một tháng sau lành vết thương, anh được chuyển về Đoàn 70/Quân khu 4 an dưỡng rồi trở lại đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến ngày toàn thắng. Anh không biết rằng, sau khi anh bị thương một ngày, Quỳnh đã bị mảnh đạn của địch chui vào trong đầu gối chân trái và bả vai trái, không thể lấy ra nếu muốn giữ lại cánh tay và nửa chân dưới vết thương. Bệnh viện Quân y 46 xử lý vết thương xong, đưa anh ra Đoàn An dưỡng 869 ở Đông Anh (Hà Nội). Sáu tháng sau, Quỳnh phục viên.

Trên trận tuyến mới

Cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Quỳnh sau khi phục viên (năm 1973) trở thành học sinh khóa 2 đào tạo công nhân kỹ thuật tại Ban Kiến thiết liên công trình Bi-Khóa-Xích líp thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội. Người chiến sĩ tác phong nhanh nhẹn, học giỏi, nổi bật ý chí vượt qua khó khăn về sức khỏe để luôn luôn đứng trong tốp đầu tiên tiến của khóa học, nên khi tốt nghiệp được giữ lại làm nhân viên Phòng Vật tư của cơ quan đã đào tạo ông. Ít lâu sau, ông trở thành công nhân kỹ thuật lành nghề lắp ráp sản phẩm của Nhà máy Xe đạp Thống Nhất (Hà Nội). Sau năm 1980, nhiều khi vết thương tái phát gây sốt, làm việc khó khăn, ông xin nghỉ công tác. Từ đó, ông có thời gian cùng người vợ-cán bộ ngành đường sắt, nuôi dạy ba người con thành đạt. 

Thượng sĩ Lê Văn Lược, khi đất nước hòa bình, trở thành cán bộ tiếp quản tỉnh Gia Lai. Người đảng viên với trình độ kỹ sư ngành lâm nghiệp có từ trước khi nhập ngũ ấy, khi chuyển ngành, được điều về công tác tại Sở Nông-Lâm tỉnh Gia Lai, rồi được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Tổ chức Xí nghiệp gỗ 17-3 của sở. Từ năm 1993, cũng giống như ông Quỳnh trước đó, sức khỏe của ông Lược giảm đi trông thấy nên xin cấp trên cho nghỉ hưu. Ở tuổi 70, ông Lược vẫn giữ trọn tư cách người đảng viên cộng sản và khí chất “cảm tử quân” trên trận tuyến mới, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng quê hương giàu đẹp.

Năm tháng qua đi nhưng tình cảm của đôi bạn Lược-Quỳnh mãi mãi thắm tươi như truyền thống anh hùng, bất diệt của đội ngũ những người chiến sĩ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị lừng danh.

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG