Hình ảnh, nét chữ được tạo nên từ đường kim, mũi chỉ và bàn tay khéo léo của các nữ chiến sĩ cách mạng trong điều kiện bị địch giam cầm, giám sát ngặt nghèo, tra tấn dã man đã toát lên phẩm chất anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của người phụ nữ Việt Nam và đất Nam Bộ thành đồng…

Nhờ sự giúp đỡ của bà Nguyễn Thị Thắm, Giám đốc Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, chúng tôi đã tìm gặp được một số cựu nữ tù, là chủ nhân của những kỷ vật thêu vô giá ấy. Nói về nguồn gốc những bức tranh thêu của chị em tù nhân, cụ Cao Ngọc Quế, từng hai lần bị đày ra biệt giam ở “chuồng cọp” Côn Đảo, giai đoạn 1962-1964 và 1968-1974, hiện đang ngụ tại quận 1, TP Hồ Chí Minh, kể lại: “Bị giam cầm trong xà lim, “chuồng cọp” Côn Đảo, thứ mà chúng tôi cần giữ nhất đó là khí tiết và niềm tin cách mạng. Để có thứ vũ khí bất khả chiến bại ấy, chi bộ Đảng trong tù và các đảng viên, những cán bộ kiên trung đã làm nòng cốt đấu tranh đòi những quyền lợi thiết yếu cho tù nhân nữ, như đòi được cho thăm nuôi, được tiếp tế đồ dùng vệ sinh phụ nữ… Nhờ đó, những chiếc khăn tay, vỏ gối, kim, chỉ… được giấu trong đồ tiếp tế từ bên ngoài đưa vào tù. Chị em tự hướng dẫn nhau làm nên những bức tranh thêu. Thực tế, chị em chúng tôi thêu được nhiều lắm, nhưng mỗi lần địch phát hiện là bị tịch thu, tiêu hủy, rồi bị chúng tra tấn khủng khiếp. Những bức tranh thêu còn giữ được đến hôm nay chỉ là một phần nhỏ”.

leftcenterrightdel
Bức tranh thêu “Thương nhớ gởi về con” của cựu nữ tù Lê Thị Tâm thực hiện tại “chuồng cọp” Côn Đảo năm 1972.

Trong số các kỷ vật thêu được Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ sưu tầm, có nhiều kỷ vật được chị em tù nhân thực hiện trong “địa ngục trần gian” Côn Đảo. Bên cạnh những bức tranh thêu phong cảnh, hoa lá, có một số bức tranh thêu chân dung Bác Hồ, mô tả tình mẫu tử, nỗi nhớ quê hương, khát vọng tự do và niềm tin tất thắng của cách mạng.

Bà Hoàng Thị Khánh, quê Hải Hậu, Nam Định, hiện ngụ tại TP Hồ Chí Minh, tác giả bức tranh thêu “Chùa Một Cột”, chia sẻ: “Tôi muốn thể hiện tình cảm, khát vọng hướng về Thủ đô Hà Nội yêu dấu nên đã thực hiện bức tranh thêu hình ảnh chùa Một Cột. Hình mẫu được lấy từ một trang tạp chí, được đưa vào từ bên ngoài qua con đường thăm nuôi. Tôi lấy giấy than đồ lên vải và thêu bí mật trong nhiều tháng mới xong. Bất cứ khi nào có cơ hội là tôi lấy ra thêu. Khi bị kiểm tra, chị em tìm cách nhét vào cơ thể, giấu cho nhau”.

Bức tranh thêu “Thương nhớ gởi về con” của bà Lê Thị Tâm (bí danh Trần Thị Đào, Mười Đào) thể hiện tình yêu thương con vô bờ bến của người mẹ khi bị giam trong “địa ngục trần gian” Côn Đảo khiến người xem vô cùng cảm động. Nếu nhiều đồng đội khác thường dựa vào những hình ảnh, mẫu chữ in trên các tạp chí được chuyển vào tù qua con đường thăm nuôi để thực hiện ý tưởng, thì bà Tâm đã thêu bức tranh về tình mẫu tử bằng cảm xúc. Tranh thêu của bà khá đơn giản về đường nét, hình ảnh, nhưng thể hiện sâu sắc niềm thương, nỗi nhớ của người mẹ bị giam trong tù ngục hướng về đứa con nhỏ bé thân yêu nơi quê nhà.

Các cựu nữ tù tâm sự rằng, tình yêu dành cho con trong trái tim những người mẹ bị địch giam cầm, tra tấn là vô cùng sâu nặng, thiêng liêng. Những năm tháng trong xà lim, nhà lao, dù phải chịu trăm nỗi cực hình tàn khốc, nhưng mỗi khi nghĩ về con mình, người mẹ lại trào lên nguồn sức mạnh nội sinh để vượt qua tất cả. Bà Đặng Hồng Nhựt, cựu tù Côn Đảo, nguyên Phó chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin TP Hồ Chí Minh, kể: “Rất nhiều lần, khi thêu những bức tranh về tình mẫu tử, các cựu nữ tù lại chụm đầu bên nhau hát trong nước mắt. Một trong những bài hát được những người mẹ bị giam trong ngục tù Côn Đảo hát nhiều nhất là bài “Mẹ yêu con” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý.

leftcenterrightdel
Các cựu nữ tù Côn Đảo xem kỷ vật tranh thêu của mình tại Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ.

Mỗi lần chúng tôi hát, nếu tụi lính cai ngục nghe được là chúng bắt phải im ngay. Không nghe lời, lập tức bị chúng lôi ra đánh đập. Lần ấy, chúng tôi hát bài “Mẹ yêu con”, khi bọn chúng đến bắt im, chúng tôi liền nói: “Chúng tôi là những người mẹ. Các cậu cũng có mẹ ở quê hương. Chúng tôi nhớ con, chúng tôi hát. Bộ các cậu không nhớ mẹ mình sao?”. Thế là tụi nó im lặng, ngó lơ. Có đứa còn lén lau nước mắt. Từ đó, mỗi khi chúng tôi hát các bài về tình mẫu tử thì chúng thường làm ngơ, thậm chí còn đứng lại nghe. Lợi dụng điều này, chúng tôi tiến hành công tác địch vận, cảm hóa được nhiều lính cai ngục, tạo điều kiện cho công tác thăm nuôi, liên lạc với bên ngoài dễ dàng hơn”.

Để thực hiện những bức tranh thêu tỉ mẩn, công phu, đẹp và giàu ý nghĩa ấy, tại các buồng giam, chị em nữ tù đã hướng dẫn, “truyền nghề” cho nhau. Có những bức tranh thêu là sản phẩm của nhiều người. Người thì lên ý tưởng, người phác thảo nét vẽ, người trực tiếp thêu. Ai giỏi công đoạn nào thì làm công đoạn ấy. Cũng có những bức tranh tác giả đang thêu dở thì bị địch tra tấn hoặc lâm bệnh nặng, hy sinh. Các chị em khác tiếp tục thêu.

Những bức tranh thêu trong tù của các nữ chiến sĩ cộng sản được bảo quản, gìn giữ nguyên vẹn đến hôm nay, một phần nhờ được chuyển ra ngoài qua con đường thăm nuôi, được các gia đình, cơ sở cách mạng bí mật cất giữ, phần khác nhờ sự mưu trí, tâm huyết của chính các nữ tù. Bà Cao Thị Hạnh, ngụ TP Hồ Chí Minh, cựu tù Côn Đảo, kể: “Năm 1973, khi chuẩn bị trao trả tù binh, địch dồn tù binh từ Côn Đảo đưa về Hố Nai (Đồng Nai). Những kỷ vật này được chúng tôi đem theo về. Tuy nhiên, khi về đến Hố Nai, biết có nhiều phóng viên, quan sát viên quốc tế sẽ tiếp cận, ghi nhận thực tế, chúng tôi bàn nhau phải chôn hoặc thiêu hủy những kỷ vật này, vì sợ nếu để quan sát viên, nhà báo quốc tế nhìn thấy những bức tranh thêu ấy, họ sẽ nhầm tưởng nữ tù nhân “sướng” lắm. Bọn tâm lý chiến của địch có cớ để rêu rao, xuyên tạc sự thật. Vì tiếc nên chúng tôi không đốt mà quyết định đem chôn. Chúng tôi đào hố, gói ghém các kỷ vật cẩn thận trong bao ni lông đem chôn và đánh giấu vị trí cẩn thận để sau này tìm lại. Nhờ đó mà nhiều kỷ vật được giữ gìn nguyên vẹn đến hôm nay”.

Những tác phẩm tranh thêu của cựu nữ tù được trưng bày là minh chứng sinh động của lòng yêu nước, tinh thần lạc quan cách mạng cao cả, ý chí chiến đấu kiên cường và khát vọng hòa bình của các nữ chiến sĩ cách mạng. Chính nét đẹp nhân văn cách mạng có từ trong cốt cách, tinh thần của các nữ chiến sĩ cộng sản đã giúp họ có được sức mạnh phi thường chiến thắng đòn roi, gông cùm và sự bạo tàn đến man rợ của kẻ thù, góp phần to lớn vào chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc. Đó là minh chứng của giá trị văn hóa, nhân văn của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh, giúp thế hệ trẻ hôm nay và mai sau có thêm những góc nhìn đầy tự hào về truyền thống, hình ảnh cao đẹp của người mẹ Việt Nam…

Bài và ảnh: KIM THẮNG