Và thế là Lê Viết Hùng thay em trai ngồi bên mâm pháo, chiến đấu rất kiên cường, ngay cả khi bị thương cũng không rời trận địa...

Kể cho chúng tôi nghe ký ức đẹp về những người đồng đội mà mình vô cùng yêu quý, Đại tá Đào Đoàn Thế Hùng không nén được xúc động: “Hai anh em ruột Lê Viết Dũng và Lê Viết Hùng, người xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm (nay là phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội), là những pháo thủ quả cảm, kiên cường. Tôi thật may mắn vì có những tháng năm được sống và chiến đấu chung một chiến hào với những con người như thế”. Ông nhớ lại: 

Hồi ấy, Tiểu đoàn 42, Trung đoàn Tên lửa 236 mới cơ động từ trận địa Thượng Thụy, Hoài Đức, Hà Tây về trận địa Văn Điển-một trọng điểm ác liệt nằm ở phía nam Hà Nội. Trong biên chế của tiểu đoàn có hai đại đội pháo cao xạ 37mm bảo vệ tên lửa là Đại đội 4 và Đại đội 7. Đồng chí Lê Viết Dũng là pháo thủ thuộc Khẩu đội 4, Đại đội 7.

Trưa 27-10-1967, chúng tôi được lệnh ăn cơm sớm hơn thường lệ vì địch hay đánh vào những giấc này. Khoảng 10 giờ 15 phút, tiểu đoàn được lệnh “vào cấp 1”. Trên mạng tiêu đồ 9x9 từ hướng tây nam và đông nam, nhiều tốp máy bay Mỹ đang tiến về hướng Hà Nội. Nhìn các đường bay dày đặc trên bảng tiêu đồ, chúng tôi hiểu rằng một trận đánh ác liệt sắp bắt đầu. Thế rồi chỉ trong khoảng mươi phút, tiểu đoàn tôi đánh liền hai trận, phóng 4 quả đạn diệt được một chiếc A4 của địch. Nhưng chưa kịp vui mừng thì hàng loạt bom đã cấp tập đánh vào trận địa. Tiếng bom nổ, tiếng pháo cao xạ bắn quyết liệt đan xen cứ rền vang không ngớt. Sau loạt bom thứ 3, trực ban tác chiến báo cáo: Địch đã đánh trúng vào Đại đội 7, bộ đội bị thương vong rất nhiều… Trong xe điều khiển, kíp chiến đấu chúng tôi lặng đi. Bên ngoài, tiếng gầm rú của máy bay phản lực, tiếng pháo cao xạ bắn vẫn không ngừng. Hôm ấy, khu trung tâm trận địa, đài điều khiển, khí tài tên lửa và cả kíp chiến đấu chúng tôi đều an toàn, nhưng Đại đội 7 bị tổn thất rất nặng: Gần 20 đồng chí bị thương, 8 đồng chí hy sinh ngay trên mâm pháo, trong đó có Binh nhất Lê Viết Dũng. Tất cả đều là thanh niên Hà Nội và chỉ mới 19-20 tuổi. Chiều ấy, mẹ Loan tìm đến trận địa, dắt theo một thanh niên giống Dũng như hai giọt nước. Chúng tôi đều hết sức bất ngờ. Mẹ tìm gặp chỉ huy đại đội và ký thác những lời gan ruột: “Các con báo cáo lên trên là mẹ cho anh nó vào thay vị trí chiến đấu để thỏa vong linh của em Dũng và đồng đội vừa hy sinh chiều nay...”.

Hành động của mẹ khiến chúng tôi vô cùng khâm phục. Lê Viết Hùng đã từng đi bộ đội và rồi xuất ngũ về công tác tại địa phương. Vâng lời mẹ, noi gương bố là liệt sĩ chống Pháp, Lê Viết Hùng nhanh chóng nhập cuộc và trở thành pháo thủ của Đại đội 7-đơn vị mà em trai anh, liệt sĩ Lê Viết Dũng đã từng sống và chiến đấu. Chiến tranh càng ngày càng ác liệt, Hùng đã cùng đồng đội kiên cường chiến đấu bảo vệ và hỗ trợ đắc lực cho các trận địa tên lửa tiêu diệt máy bay địch. Trong một trận chiến đấu bảo vệ yếu địa tại chiến trường B, Lê Viết Hùng tuy bị thương nhưng vẫn không chịu rời trận địa. Thế rồi trong đoàn quân thần tốc, đơn vị Hùng được lệnh kéo pháo vào tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn. Cuối năm 1975, với thương tật hạng 1/4, Lê Viết Hùng trở về quê hương, tích cực tham gia các công tác đoàn thể. Rồi anh cưới vợ, sinh con, sống một cuộc đời bình dị và ý nghĩa, đúng với phẩm chất cao quý của anh Bộ đội Cụ Hồ.

Nghe tin thương binh Lê Viết Hùng trở bệnh nặng do vết thương cũ tái phát, chúng tôi đã thay mặt bạn chiến đấu của Trung đoàn Tên lửa 236 đến thăm anh. Dẫu không thể ngồi dậy trò chuyện được, nhưng qua cái nắm tay yếu ớt của anh, chúng tôi biết anh đang rất vui và cảm động. Tiếc là lần này trở lại, chúng tôi không còn được gặp lại mẹ Loan. Bà đã mất cách đây không lâu. Trên ban thờ, ánh mắt của mẹ thật nhân hậu, bao dung, còn gương mặt của liệt sĩ Lê Viết Dũng thì trẻ mãi!

QUỲNH VÂN