Bao năm qua, những cánh bom, đạn pháo và các loại vũ khí được ông chế tác thành những vật dụng hữu ích trong gia đình...

Ghé thăm nếp nhà cổ nằm giữa xóm 1, xã Hưng Thông (Hưng Nguyên, Nghệ An), chúng tôi có cảm giác như thời gian đang ngưng đọng, bởi cách bài trí và không ít vật dụng có từ hơn nửa thế kỷ trước vẫn còn hiện hữu, từ các loại cấu kiện đến bộ tràng kỷ ở gian giữa. Nhưng, cái để lại ấn tượng nhất vẫn là những vật dụng được chế tác từ các loại vũ khí thời đánh Mỹ. Chiếc bình hoa đặt trên bàn thờ, bộ bàn ghế các cháu nhỏ ngồi học, soong nồi dùng nấu ăn hằng ngày và những chiếc thìa dùng trong các bữa ăn đều do bàn tay tài hoa của người chủ nhà chế tác. Ông Nguyễn Hữu Thường cho biết: “Bố tôi là công nhân Nhà máy Xe lửa Trường Thi, bản thân tôi cũng xuất thân là người thợ sửa chữa đầu máy xe lửa nên việc chế tác đồ dùng phục vụ sinh hoạt và cuộc sống là chuyện không mấy khó khăn. Trong những ngày tháng chiến tranh khốc liệt, những vật dụng này có lúc mang ý nghĩa sống còn...”.

leftcenterrightdel
Ông Nguyễn Hữu Thường giới thiệu những vật dụng được chế tác từ các loại vũ khí trong chiến tranh. 

Từ một công nhân sửa chữa đầu máy xe lửa ở Hà Nội, do nhu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông Nguyễn Hữu Thường nhập ngũ. Trở thành chiến sĩ lái xe của Cục Vận tải (Tổng cục Hậu cần) với nhiệm vụ vận chuyển cán bộ, chiến sĩ, lương thực và vũ khí vào tiền tuyến, không ít lần ông chứng kiến cảnh khốc liệt của cuộc chiến tranh, chứng kiến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Chiếc xe của ông đã lăn bánh từ chiến trường Lào, rồi trở về Mặt trận Trị Thiên, chiến trường Tây Nguyên và có mặt trong đoàn quân tiến vào Sài Gòn trong những ngày đại thắng mùa Xuân 1975.  Hơn 10 năm quân ngũ, từng đứng trước những phút giây sinh-tử, người chiến sĩ ấy luôn thể hiện tinh thần yêu thương và sẻ chia cùng đồng đội. Và, việc chế tác những vật dụng ấy chính là xuất phát từ tình yêu thương và mong muốn giành lại sự sống cho đồng chí, đồng đội trong những lúc nguy nan.

Ông Thường kể rằng, trong một lần chở hàng ra chiến trường, đi suốt mấy ngày đêm, băng qua những cung đường gập ghềnh, vượt qua những cánh rừng già, đại đội xe không may bị địch phát hiện và ném bom ồ ạt như muốn cày xới cả cánh rừng. Cây cối gãy đổ, xe cháy, người bị thương... Giặc rút đi, nguồn lương thực bị cháy, xoong nồi mang theo cũng bị vùi, một đồng đội đang dần kiệt sức, một phần vì vết thương làm mất nhiều máu, phần nữa do suốt ngày chưa có miếng gì vào bụng. Lúc băng bó vết thương, ông Thường nghĩ rằng nếu không có gì để ăn, chắc chắn người đồng đội ấy không thể qua khỏi. Băng qua những hố bom đang khét lẹt mùi đạn khói, luồn qua những tán cây gãy đổ, người chiến sĩ vận tải lội giữa cánh rừng nhặt từng cọng rau dại đưa về cho bạn. Nhưng xoong nồi chẳng còn một chiếc, biết lấy gì để nấu rau? Thật may, cách đó không xa có chiếc máy bay địch bị bắn rơi từ mấy tháng trước, Nguyễn Hữu Thường chạy ngay lại, gỡ một phần trong chiếc cánh rồi tỉ mẩn ngồi gõ thành chiếc nồi nhỏ để nấu canh rau rừng bón cho đồng đội. Như có phép màu, sau khi húp những thìa canh nóng hổi, người bạn chiến đấu dần lấy lại sức lực và được chuyển về binh trạm tiếp tục cứu chữa. Và đây không phải là lần duy nhất ông Nguyễn Hữu Thường cứu đồng đội, mà trên những chặng đường hành quân, mỗi khi gặp cảnh bom giội hay thiếu các vật dụng đun nấu, đôi bàn tay khéo léo của người thợ cơ khí lại phát huy tác dụng, giúp mọi người có được bữa ăn trong lúc nguy nan.

Với cựu chiến binh Nguyễn Hữu Thường, mỗi vật dụng đều chứa đựng một kỷ niệm sâu sắc trong những năm tháng gian khổ, ác liệt. Trước tiên là chiếc phích được làm từ ống pháo sáng của địch, ông nhặt ngày ở chiến trường Lào và bỏ ra một ngày ngồi gò thành vật dụng đựng nước. Phía trên thành phích vẫn còn nét khắc năm sản xuất là 1969 cùng câu thơ: “Mảnh bom ghép lại thành khay/ Ngọt ngào cho bõ đắng cay đã nhiều”. 

Ở góc nhà đặt chiếc bàn, chất liệu chế tác được lấy từ các chi tiết của một chiếc máy bay bị bắn rơi và cánh bom tạo nên sự độc đáo, lạ mắt, mang nhiều ý nghĩa nhưng vẫn bảo đảm giá trị sử dụng. Hằng ngày, các cháu nhỏ vẫn ngồi học bài, những bài văn, phép toán học trò được viết trên chiếc bàn từng là kỷ vật kháng chiến. Bên cạnh là chiếc ghế hoàn toàn được làm bằng hợp kim nhôm lấy từ cánh máy bay F-105, qua mấy chục năm sử dụng vẫn vững chãi và bóng loáng. Rồi chiếc mâm đồng được tán ra từ vỏ đạn 130mm, ông bỏ ra mấy ngày ngồi khắc các chi tiết hoa văn. Nhiều năm nay, gia đình ông vẫn dùng để bày biện đồ thờ cúng dâng lên các bậc tiên tổ. Trên đó còn có chiếc khung nhỏ, giá đỡ được làm bằng vỏ đạn cỡ vừa, chủ nhân dùng để cất giữ bài thơ tâm đắc do mình sáng tác. Rồi những chiếc khay, ly, thìa, soong và cặp lồng được làm từ vỏ bom bi, đạn rốc két và các chi tiết trên thân máy bay, tất cả gợi lên một điều gì đó hết sức gần gũi nhưng cũng chứa đựng một ý nghĩa nhân sinh và triết lý ở đời.

Tận mắt xem và cầm tận tay những kỷ vật ấy, chúng tôi thực sự ngỡ ngàng không chỉ vì sự khéo léo của đôi bàn tay người chế tác mà còn bởi chủ nhân đã kỳ công gom nhặt, cất giữ, đưa từ chiến trường trở về và còn dùng đến tận hôm nay. Lẽ thường, khi qua những giai đoạn khó khăn, mọi người thường vứt bỏ các vật dụng lại giữa đường, bởi phía trước là chiến trường, là nhiệm vụ chiến đấu, là sự sống và cái chết, không mấy ai lưu tâm. Nhưng với Nguyễn Hữu Thường, những vật dụng ấy mang một phần tâm hồn, gan ruột và máu thịt, là những “đứa con”. Người “cha đẻ” đã gom và cất giữ những “đứa con” ấy, vượt qua nghìn trùng cách trở, đi qua những trận địa ác liệt để về với quê hương, giúp thế hệ con cháu hiểu hơn về sự khốc liệt của chiến tranh và sự thông minh, sáng tạo của người lính.

Bài và ảnh:  NGUYÊN KHANG