Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng lược ghi, giới thiệu bài nói chuyện của GS Phan Huy Lê và ý kiến của một số nhà khoa học, đại biểu tham dự.

GS Phan Huy Lê: 20 năm qua đã cho thấy nhiều thành tựu nổi bật mới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam qua tất cả các thời kỳ. Đã phát hiện ở An Khê, Gia Lai các công cụ lao động giai đoạn sơ kỳ trong thời đại đồ đá cũ, xác định thời tiền sử của Việt Nam có thể cách nay khoảng 60 đến 80 vạn năm. Đã có hàng trăm di tích, hàng vạn di vật được phát hiện ở khắp các vùng miền, nổi bật là nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh. Bên cạnh văn hóa Đông Sơn, việc nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Óc Eo đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Ba nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo tồn tại ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam đều phát triển rực rỡ và bổ sung cho nhau.

Các thời kỳ tiếp theo cũng ghi nhận nhiều kết quả nghiên cứu mới. Đáng kể là có thêm những cơ sở để khẳng định cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan kéo dài gần 10 năm (713-722) chứ không phải chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, bùng nổ và thất bại trong năm 722. Điều quan trọng nữa, cuộc khởi nghĩa này không chỉ quy tụ nhân dân trong nước mà còn liên kết với một số quốc gia láng giềng phương Nam…

leftcenterrightdel
Giáo sư Phan Huy Lê trình bày “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam” tại buổi thông tin khoa học do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức, ngày 22-2-2017. Ảnh: Hà Thu. 

 

Triều nhà Mạc và thời vua Lê, chúa Trịnh được nhìn nhận rõ ràng, chân thực hơn. Đặc biệt, các nghiên cứu đã cho thấy đánh giá khách quan hơn về công, tội của nhà Nguyễn. Một trong những công lao rất lớn của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn là mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước, khai phá Đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1757, chúa Nguyễn đã định hình được lãnh thổ Việt Nam hiện nay từ phía Bắc vào Cà Mau, từ Tây Nguyên ra biển, các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhà Nguyễn có công lớn trong việc hình thành, định hình một nhà nước thống nhất và xác lập lãnh thổ-không gian sinh tồn của nước Việt Nam. Tuy nhiên, tội lớn của nhà Nguyễn là để mất nước vào tay quân Pháp và quá bảo thủ, với hệ tư tưởng lạc hậu, từ chối các đề nghị canh tân đất nước…

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương:

Chúng tôi rất chia sẻ những vấn đề mà GS Phan Huy Lê và nhiều nhà khoa học băn khoăn, trăn trở. Đó cũng là những vấn đề mà những người làm công tác tuyên giáo đang phải đối mặt và tìm cách giải quyết. Dù lịch sử có liên quan rất lớn với chính trị nhưng các cơ quan lãnh đạo luôn nhìn vào lịch sử để nhận ra bài học về xây dựng, bảo vệ đất nước. 

 

Chúng tôi cho rằng, nhìn nhận về lịch sử phải hết sức khách quan và cái gì khách quan của lịch sử mới tồn tại lâu dài được. Cái gì mà trong một tình thế thời sự nào đó ta phải tôn vinh hoặc hạ thấp thì nó chỉ tồn tại trong một điều kiện nhất định. Sử học đành rằng phải làm tròn trách nhiệm công dân nhưng sứ mạng cao cả nhất của sử học là làm thế nào để tạo nên được những trang sử bằng cứ liệu lịch sử khách quan, trung thực.

Điều rất trăn trở của chúng tôi là hiện nay vẫn tồn tại nhiều khoảng trống lịch sử trong tư duy, nhận thức về lịch sử Việt Nam. Đó là nhận thức vẫn xuất phát từ truyền thống thời quân chủ, là lịch sử của các vương triều, của nhà vua, các triều thần, còn lịch sử nhân dân rất mờ nhạt. Lịch sử của các dân tộc thiểu số gần như

 

không được nhắc đến. Sử học hiện đại Việt Nam trong một thời gian dài cũng chỉ trình bày nặng về lịch sử người Việt. Lịch sử một số vùng, nhất là Nam Trung Bộ còn nhiều khoảng trống nguy hiểm…

Để san lấp những khoảng trống lịch sử đó cần phải xác lập một quan điểm, nhận thức mới về lịch sử Việt Nam. Một quan điểm được gần như tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới đều thừa nhận, đó là lịch sử của bất cứ quốc gia, dân tộc nào cũng đều xuất phát từ lãnh thổ hiện nay để viết sử. Tất cả những gì diễn ra trên không gian địa lý, lãnh thổ đó đều thuộc về chủ quyền khai thác, bảo quản và nghiên cứu của chính quốc gia đang làm chủ đó, dù trước đó có những dân tộc đã từng có nhà nước riêng. Tất cả các tầng lớp cư dân, cộng đồng, tộc người hay các vương quốc từng tồn tại trên các không gian lãnh thổ đó đều thuộc về lịch sử và văn hóa của nhà nước hiện nay đang quản lý lãnh thổ đó.

Từ quan điểm này, chúng ta sẽ tìm được giải pháp xuyên suốt cho nhiều vấn đề lịch sử quan trọng. Ngay cả thời kỳ cận hiện đại cũng vậy. Ví như trong cuộc kháng chiến chống Pháp thì cần nghiên cứu trình bày cả vùng chiếm đóng của Pháp, trong đó bao gồm cả Hà Nội lúc Pháp chiếm đóng, cả quốc gia Việt Nam thời Bảo Đại. Tương tự, trong kháng chiến chống Mỹ cũng cần nghiên cứu sâu hơn về những vùng tạm chiếm ở miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn và cả lịch sử của Việt Nam Cộng hòa. Trước đây, ta vạch ra ranh giới của địch, ta và chỉ trình bày phía ta đã làm mất đi căn cứ pháp lý trọng yếu để khẳng định chủ quyền với lãnh thổ Việt Nam. Quan điểm lịch sử mới này vừa là thực tế lịch sử, vừa là bộ phận có tính chất khách quan, trung thực và là căn cứ pháp lý để khẳng định chủ quyền Việt Nam…

Ý kiến của một số nhà khoa học:

GS Vũ Minh Giang: Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng nói: “Sử học phải là một khoa học tự nhận thức của một dân tộc”. Có thể nói, sự khám phá và nhận thức về bản thân mình không khoa học nào tốt hơn là khoa học lịch sử. Mọi vấn đề không phải từ trên trời rơi xuống mà đều có căn nguyên lịch sử và văn hóa của nó, nghiên cứu sâu sẽ có cách hóa giải. Các nhà lãnh đạo đất nước cần sử dụng những kết quả nghiên cứu lịch sử, những bài học rút ra từ lịch sử làm căn cứ quan trọng cho việc hoạch định chính sách.

GS Nguyễn Quang Ngọc: Trong bộ “Lịch sử Việt Nam” (gồm 25 tập chính sử và 5 tập biên niên), chúng tôi thống nhất quan điểm trình bày lịch sử Việt Nam một cách toàn diện, tổng thể trên toàn quốc. Chúng tôi cố gắng mô tả sự kiện lịch sử, trình bày các vấn đề lịch sử như là nó diễn ra một cách khách quan, trung thực nhất, gần với sự thật lịch sử nhất và trên tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử.

PGS, TS Trần Đức Cường: Dân ta thích sử. Từ yêu thích dẫn đến hiện tượng nhà nhà viết sử, người người viết sử. Nhưng ở đây có một “bệnh” phổ biến hiện nay là đưa truyền thuyết vào lịch sử, thậm chí đồng nhất truyền thuyết với lịch sử. “Căn bệnh” này rất nguy hiểm, dễ dẫn đến hiện tượng bóp méo, xuyên tạc lịch sử. Theo tôi, các nhà xuất bản cần phải chặt chẽ hơn về vấn đề này.       

 


HOÀNG TIẾN - VÂN HƯƠNG (lược ghi)