Trong thư, bà Liên cho biết mình là em gái của liệt sĩ Hoàng Thị Kiều Liên, sinh năm 1953; nhập ngũ năm 1972, hy sinh ngày 21-10-1972 tại Tuyên Hóa, Quảng Bình. Đến năm 1976, gia đình bà Liên đã đưa được hài cốt của liệt sĩ về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Hợp Đức, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng (nay là phường Hợp Đức, quận Đồ Sơn, TP Hải Phòng).

leftcenterrightdel

Đại diện chính quyền quận Đồ Sơn giải trình về thực trạng Nghĩa trang Liệt sĩ Hợp Đức, đồng thời cam kết phối hợp với các cơ quan chức năng và thân nhân các liệt sĩ giải quyết sự việc. Ảnh: THANH TUẤN. 

Hằng năm, gia đình bà Liên vẫn thắp hương tại ngôi mộ mang tên chị mình ở vị trí thứ hai, hàng thứ hai bên trái kỳ đài. Tuy nhiên đến năm 2012, Nghĩa trang Liệt sĩ Hợp Đức được tu bổ, sửa chữa thì ngôi mộ của liệt sĩ Hoàng Thị Kiều Liên, sinh năm 1953 đã bị đổi thành Hoàng Thị Kim Liên, sinh năm 1955 và nằm ở vị trí thứ hai, hàng đầu, còn ngôi mộ ở vị trí thứ hai, hàng thứ hai lại được gắn bia mang tên liệt sĩ Ngô Quang Uyên. Gia đình bà Liên đã kiến nghị đến Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội quận Đồ Sơn về sự thay đổi trên thì đến cuối năm 2013, bia mang tên liệt sĩ Hoàng Thị Kim Liên lại được chuyển về ngôi mộ thứ hai, hàng thứ hai như gia đình bà Liên vẫn hương khói trước đây. Tuy nhiên đến ngày 27-7-2015, gia đình bà Liên đến thắp hương tại nghĩa trang thì rất ngạc nhiên khi thấy bia mộ chị mình lại được chuyển lên hàng trên như thời điểm năm 2012. Giải thích về điều này, ông Đinh Đắc Trường, nguyên Trưởng phòng Lao động, Thương binh và Xã hội quận Đồ Sơn, nay là Chánh văn phòng UBND quận, cho biết: Ban đầu, nghĩ rằng mộ liệt sĩ Ngô Quang Uyên là ngôi mộ không cốt nên khi gia đình bà Liên có đơn đề nghị đổi, ông liền nhất trí, nhưng sau đó gia đình liệt sĩ Uyên nói rằng mộ của liệt sĩ Uyên có cốt nên chính quyền buộc phải trả lại tên bia mộ về vị trí như trong sơ đồ lập năm 2004. Từ đó đến nay, gia đình bà Liên liên tục làm đơn, tìm gặp các cơ quan chức năng đề nghị làm rõ sự việc, yêu cầu trả lại bia và phần mộ chính xác cho liệt sĩ Hoàng Thị Kiều Liên.

Sau khi tiếp nhận đơn thư của bà Hoàng Thị Liên, phóng viên Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng đã liên hệ với bà Liên, đồng thời làm việc với UBND quận Đồ Sơn và các cơ quan liên quan. Theo tìm hiểu của phóng viên cũng như nội dung báo cáo của UBND quận Đồ Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ Hợp Đức (trước đây là Nghĩa trang liệt sĩ xã Hợp Đức, huyện Kiến Thụy) được xây dựng năm 1968 tại thôn Quyết Tiến 1 (nay là tổ dân phố Quyết Tiến), quy tập hài cốt liệt sĩ từ Nghĩa trang liệt sĩ tại thôn Trung Nghĩa, xã Hợp Đức, huyện Kiến Thụy (nay là tổ dân phố Trung Nghĩa, phường Hợp Đức). Từ đó, nghĩa trang đã trải qua nhiều lần cải tạo, nâng cấp. Theo lưu trữ của địa phương, có ba lần cải tạo lớn diễn ra vào các năm 1993, 2004 và 2012, trước đó cũng đã có vài lần tôn tạo nhưng không được ghi chép lại. Một thực tế là mặc dù được xây dựng từ năm 1968, nhưng chỉ đến năm 2004, sau khi hoàn thành việc cải tạo lớn với các hạng mục như: Mở rộng kỳ đài, nâng nền, cải tạo tường rào, bồn hoa... có kèm theo việc di dời 18 ngôi mộ liệt sĩ, ông Nguyễn Quang Đang-nguyên cán bộ chính sách xã Hợp Đức trước đây (nay tách ra thành phường Hợp Đức và Minh Đức) mới lập sơ đồ mộ liệt sĩ, nộp lưu trữ địa phương. Theo sơ đồ này, mộ của liệt sĩ Hoàng Thị Kiều Liên nằm ở vị trí thứ hai, hàng thứ nhất, do việc mở rộng kỳ đài, các ngôi mộ hàng thứ nhất trước đó đã được cất chuyển ra phía sau. Năm 2012, trên cơ sở sơ đồ do ông Đang lập, UBND quận Đồ Sơn là chủ đầu tư, đã giao cho Hợp tác xã Xây dựng 670 cải tạo nâng cấp Nghĩa trang Liệt sĩ Hợp Đức như hiện nay với các hạng mục: Ốp vỏ một, lắp bia ghi tên liệt sĩ, lát gạch nghĩa trang, sửa chữa cổng tường bao (không di chuyển phần mộ nào).

leftcenterrightdel
Khu vực các ngôi mộ liệt sĩ có sự tranh chấp. Ảnh: THANH TÚ. 

Qua trao đổi với bà Hoàng Thị Liên, khi gia đình bà không công nhận ngôi mộ hiện tại là của liệt sĩ Hoàng Thị Kiều Liên và có đơn khiếu nại, UBND quận Đồ Sơn đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tích cực giải quyết, nhưng khi sự việc chưa ngã ngũ, thậm chí lại phát hiện những vấn đề nghiêm trọng hơn, như: Khu vực nay là nền gạch, trước đây có 4 ngôi mộ (vị trí hàng đầu như đã nêu ở trên) theo chính quyền quận Đồ Sơn cho biết, đã được di dời ra phía sau, nhưng khai quật phát hiện vẫn còn 2 phần mộ có cốt (đã được đưa đi lấy mẫu ADN đều không phải của liệt sĩ Uyên hay liệt sĩ Liên) và 2 phần mộ không cốt; khi lật ngôi mộ hiện nay gắn bia Hoàng Thị Kim Liên thì đó lại là ngôi mộ không có cốt...

Rõ ràng có sự tắc trách, cẩu thả trong công tác chính sách và quản lý nghĩa trang liệt sĩ của cán bộ chuyên trách cũng như chính quyền địa phương trước đây. Tại buổi làm việc với phóng viên, ông Hoàng Trung Hiếu, Phó chủ tịch UBND quận Đồ Sơn đã thừa nhận trách nhiệm của địa phương khi buông lỏng quản lý, dẫn đến sự việc nói trên. Cho rằng đây là tồn tại của lịch sử nhưng ông Hoàng Trung Hiếu cam kết sẽ cùng chính quyền và gia đình các liệt sĩ tích cực tìm cách tháo gỡ, xử lý thấu tình đạt lý, trả lại tên trên phần mộ của các liệt sĩ.

Sự việc này khiến chúng tôi liên tưởng đến câu chuyện liên quan đến quá trình tìm kiếm hài cốt các liệt sĩ thanh niên xung phong hy sinh tại Hang Tám Cô, tỉnh Quảng Bình đang được dư luận quan tâm. 24 năm sau ngày hy sinh, khi tiến hành nổ mìn phá hang tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, ngày 11-5-1996, một bộ hài cốt nguyên vẹn có lẫn vòng tượng thánh giá được tìm thấy và được xác định là của liệt sĩ Hoàng Văn Vụ vì anh là người Công giáo duy nhất. Tiếp đó, một nhóm xương, tóc, răng cùng những kỷ vật được tìm thấy lẫn lộn với nhau, chưa xác định được danh tính và được nhà chức trách “tự ý” chia làm 7, cho vào tiểu sành rồi bàn giao về cho thân nhân các liệt sĩ ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nhưng chỉ vài tháng sau, khi tôn tạo lại di tích, người ta đã tìm thấy 6 bộ hài cốt khác còn tương đối nguyên vẹn và đưa đi an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ thanh niên xung phong ở xã Thọ Lộc (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) mà không có một động thái xác minh, kiểm tra. 8 liệt sĩ hy sinh nhưng có đến 14 ngôi mộ; mộ có cốt thành chưa biết tên, mộ có tên lại không cốt. Việc làm này, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình năm 1996 đã kết luận là sai lầm nghiêm trọng: “Thể hiện việc làm không bình thường, tùy tiện, thiếu khách quan, vi phạm nguyên tắc quản lý Nhà nước về mộ và nghĩa trang liệt sĩ”... nhưng sau đó lại đi vào im lặng trong sự chờ đợi, trông ngóng của thân nhân các liệt sĩ!

BÍCH TRANG