Thời ấy, chúng tôi đều là những trai thanh Hà Nội, gái tú miền quan họ và ở các miền Hà Bắc, Hà Tây, Hưng Yên, Hà Nam, Nghệ Tĩnh… rời ghế trường phổ thông, trường đại học, cùng hội tụ về đây. Tất cả gác lại ước mơ, hoài bão, tạm biệt mẹ già, tạm biệt phố phường, quê hương yêu dấu vì một lý tưởng thiêng liêng: Mang lời ca tiếng hát đến nơi bom rơi, đạn nổ động viên bộ đội đánh Mỹ, bảo vệ quê hương, bảo vệ Thủ đô yêu dấu.

Đêm 18-12-1972, cả đội đang dự hội diễn văn nghệ tại hội trường sân bay Gia Lâm thì có lệnh báo động: “Máy bay B-52 cách Hà Nội 150km, tất cả về vị trí chiến đấu”. Cả đội lên chiếc xe tải mái bạt hướng phía Mễ Sở qua sông Hồng, sang Thường Tín, về sư đoàn bộ ở Nhân Chính. Đến đê sông Hồng, tất cả xuống xe đi bộ lên phà ngang. Mọi người vừa hồi hộp, vừa chứng kiến cảnh tượng bầu trời Thủ đô sáng rực. Pháo lớn, pháo nhỏ, cả súng bộ binh nữa thi nhau giăng lửa trên bầu trời đêm, tạo nên lưới lửa phòng không dày đặc. Tiếng đạn rít, tiếng pháo nổ chát chúa, những “chùm hoa lửa” đan vào nhau, bao vây, tiêu diệt những “con ma”, “thần sấm” của Mỹ hòng vào trước để mở đường cho “pháo đài bay”. Bỗng một vầng sáng vút lên, rồi 2, 3, 4, 5… “rồng ta” xuất kích. Cả đội nhảy lên reo hò: Hoan hô tên lửa ta đánh rất hay! Một vầng lửa to như đống rơm bốc cháy từ trên trời cao lao xuống.

leftcenterrightdel
Đồng chí Phạm Ngọc Khôi (ngồi thứ hai từ phải sang) cùng Đội Tuyên văn xung kích Sư đoàn Phòng không 361 gặp mặt kỷ niệm, tháng 3-2018. Ảnh: NGỌC KHUÊ.

B-52! B-52!... B-52 cháy rồi! Tiếng hô không ngớt cùng những ánh mắt hồ hởi dõi theo chiếc B-52 cháy đùng đùng rơi, lao về phía đông bắc Thủ đô. Lúc ấy khoảng nửa đêm.

Về đến phòng chính trị sư đoàn, vừa chân ướt chân ráo lại thấy loạt bom B-52 quăng bừa xuống nhà dân khu đường Láng dọc sông Tô Lịch, trúng dãy nhà tranh tre của đội chúng tôi. Anh chị em đã sơ tán ra hầm. Một quả bom tấn nhấc cả căn hầm chữ A văng ra phía bờ sông. Trong tiếng bom nổ, đạn réo, chúng tôi đã vượt khói lửa tìm kiếm, cứu thương. 6 đồng đội của chúng tôi hy sinh được đặt lên nơi cao thoáng, gần hiên nhà đã bị sập đổ. Còn các anh, các chị bị thương nằm ngổn ngang. Đây nhà thơ Lê Nguyên Bá, kia nhạc sĩ Xuân Điềm, chị Bến, Bền, Khách, Việt, Định, Tiếp, Minh… tốp ca nữ xinh đẹp. Anh Tuân sáo trúc, nhị, đàn tam, anh Sinh đàn tứ, anh Tiến vĩ cầm, anh Hưng phong cầm, đàn bát-anh Sơn, anh Tuấn biên kịch. Các anh Thắng, Thế, Bình, Văn, Hoàng, Chiến, Ngọc Anh, Minh Ngọc-tốp ca nam hùng tráng... Tất cả bị sức ép bom phá đều bất tỉnh, sau được đưa về bệnh xá sư đoàn cấp cứu.

Thế là cả Đội Tuyên văn xung kích Sư đoàn 361 tan tác. Người chết, người bị thương, nhạc cụ hỏng hết. Lệnh của sư đoàn: Giải tán Đội Tuyên văn xung kích! Anh em bổ sung về các đơn vị chiến đấu. Nhưng Chính ủy sư đoàn Văn Giang triệu tập cán bộ quán triệt: Chúng ta không thua! Tiếng hát của các đồng chí phải tiếp tục vang lên trên các trận địa phòng không. Đó là tiếng hát át tiếng bom!

Ngay sau đó, chính ủy giao nhiệm vụ cho đội trưởng, đội phó tập trung anh em về nơi sơ tán: Đình làng Ngọc Động, Thường Tín. Vừa dưỡng thương, vừa sáng tác, luyện tập và lên đường biểu diễn, tuyên truyền chiến thắng, động viên dân quân, bộ đội ở các trận địa cao xạ, tên lửa dũng cảm chiến đấu, bắn rơi nhiều B-52, quyết hạ gục uy danh của không lực Hoa Kỳ. Thế là những bài thơ, bài hát tự biên tự diễn lại vang lên. Chúng tôi còn nhớ khí thế hào hùng trong bài hợp ca nam nữ “Tên lửa ta đánh rất hay” của nhạc sĩ Doãn Nho, “Pháo ta ôm bóng Ba Đình” của Xuân Điềm, “Khẩu đội ta” của Mạnh Thắng, “B-52 là B lăn quay” của Ngọc Khôi. Đến đâu, bộ đội ta cũng rất xúc động khi nghe bài “Hoa lửa” sáng tác Xuân Điềm-Ngọc Khôi đơn ca. Và thật tự hào qua giọng thơ hào sảng của Lê Nguyên Bá (anh viết và đọc): “… đánh Mỹ ta tuy nghèo tiền bạc nhưng ta giàu nhân phẩm Việt Nam”. Còn nữa, ai cũng thích màn múa tiếp đạn và ca cảnh trận địa bên sông thắm tình quân dân một thời đạn bom.

Từ bấy đến nay, thấm thoắt đã 46 năm, chúng tôi-những chiến sĩ tuyên văn-tự hào đã góp phần nhỏ bé trong Chiến thắng lịch sử “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

PHẠM NGỌC KHÔI