Khởi đầu từ con số không, dưới sự dẫn dắt của Cục trưởng Cục Quân giới kiêm Giám đốc Nha NCKT đầu tiên, vị kỹ sư tài năng Trần Đại Nghĩa, đơn vị đã làm nên những điều kỳ diệu trong thiết kế, chế tạo vũ khí đạn dược cho kháng chiến. Nhân kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (15-9-1945 / 15-9-2018) và Viện Vũ khí đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Đại tá Bùi Tuấn Anh, Viện trưởng Viện Vũ khí...

leftcenterrightdel
Đại tá Bùi Tuấn Anh. Ảnh: TUẤN TÚ

Kỳ tích “từ không đến có”

Phóng viên (PV): Nha NCKT có lẽ là viện nghiên cứu đầu tiên không chỉ của quân đội mà là cả nước sau ngày cách mạng thành công. Bối cảnh và yêu cầu lịch sử nào phải ra đời một cơ quan nghiên cứu đặc biệt từ rất sớm như vậy, thưa đồng chí?

Đại tá Bùi Tuấn Anh: Kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19-12-1946, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ ở vào thế cô lập, chưa có sự giúp đỡ của quốc tế nên việc tổ chức một đơn vị để tự nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí với phương tiện, vật liệu sẵn có để trang bị cho bộ đội và nhân dân ta đánh giặc là vô cùng cần thiết.

Với chủ trương, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, vũ trang hóa toàn dân, quân sự hóa toàn dân theo đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, Đảng ta đã coi việc sản xuất, sửa chữa vũ khí trở thành công việc cấp bách. Với nhãn quan nhạy bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất sớm đã thấy được vai trò của vũ khí trong công tác chuẩn bị đụng đầu với quân đội thực dân xâm lược. Trong chuyến sang Pháp năm 1946, Người đã đưa về nước nhiều nhà khoa học tài năng, trong đó có kỹ sư Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa), Cục trưởng Cục Quân giới kiêm Giám đốc Nha NCKT đầu tiên, mang theo các tài liệu nước ngoài quý giá, phục vụ cho việc nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí sau này.

Từ thực tiễn đó, ngày 4-2-1947, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp đã ký Nghị định số 228/NĐ về kiện toàn tổ chức Chế tạo quân giới Cục. Theo đó, Nha NCKT được thành lập và trực thuộc Cục Quân giới với nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các loại vũ khí mới, đồng thời thí nghiệm nhằm phát huy, cải tiến tính năng, tác dụng nâng cao chất lượng các vũ khí đã đưa vào sản xuất bằng cách dựa vào lý luận xạ thuật (thuật phóng) và lý luận hóa chất nổ để hướng dẫn dùng đúng thuốc phóng và thuốc nổ nhồi lắp. Nha còn có nhiệm vụ nghiên cứu vật liệu thay thế và trực tiếp quản lý xưởng mẫu.

PV: Theo sử sách và tài liệu chúng tôi nghiên cứu thì vào thời điểm ra đời đó của Viện, tất cả đều từ con số không…

Đại tá Bùi Tuấn Anh: Đúng là như vậy. Nha NCKT khi ấy đứng trước một thực tế: Tất cả đều là con số không: Không có cơ sở, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, không có máy móc thiết bị công nghệ chế tạo, không có tài liệu hướng dẫn, tham khảo, không có vật tư nguyên liệu cốt yếu, đặc biệt là không có nhiều cán bộ khoa học được đào tạo về vũ khí đạn dược có kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu... trong khi thực dân Pháp huy động lực lượng, vũ khí, phương tiện thực hiện những trận đánh và càn quét với quy mô lớn. Đó là một thực tế khắc nghiệt trong những ngày đầu mới thành lập.

leftcenterrightdel
Lãnh đạo Viện Vũ khí, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng thảo luận cùng các kỹ sư Phòng Súng-Pháo về một đề tài đang nghiên cứu. Ảnh: NGỌC MAI

PV: Trước những khó khăn, mà như đồng chí nói là thực tế khắc nghiệt như vậy, chúng ta đã làm gì để vượt qua và nhanh chóng đi “từ không đến có” trong giai đoạn đặc biệt đó?

Đại tá Bùi Tuấn Anh: Trong hoàn cảnh tài liệu nghiên cứu, giảng dạy vô cùng thiếu thốn, những nội dung kiến thức đào tạo quan trọng nhất khi ấy là sự hiểu biết và kinh nghiệm về thiết kế, chế tạo vũ khí của kỹ sư Trần Đại Nghĩa. Cùng với đó là một số tài liệu do đồng chí Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, sưu tầm được trong thời gian dự Hội nghị Fontainebleau (Pháp). Kiến thức và kinh nghiệm để truyền đạt cho học viên còn được chính các cán bộ của nha tích cực sưu tầm, tổng kết thông qua thực tiễn nghiên cứu, “mổ xẻ” các chiến lợi phẩm về vũ khí, đạn dược thu được của địch.

Ngoài việc đào tạo tại chỗ, Nha NCKT còn bổ sung lực lượng cán bộ, công nhân viên từ các công binh xưởng, đặc biệt là các hàng binh của địch có hiểu biết về cơ khí, vũ khí, hóa chất.

Cùng với việc đào tạo lực lượng của mình, Nha NCKT còn tổ chức hiệu quả nhiều khóa đào tạo cho cán bộ các công binh xưởng trong toàn quân, điển hình là lớp đào tạo 15 quản đốc xưởng diễn ra trong 3 tuần lễ cuối năm 1947, với các nội dung xạ thuật, thuốc phóng, thuốc nổ, phương pháp nhồi thuốc, kỹ thuật hàn, chi tiết của vũ khí dập... và các bài tập ứng dụng tính toán đối với đạn bazooka và AT. Sau khi tốt nghiệp, các học viên đã về đơn vị tổ chức tốt hoạt động sản xuất vũ khí đạn dược và trở thành những nòng cốt của quân giới Việt Nam.

Chỉ trong một thời gian rất ngắn, Nha NCKT đã tập hợp, đào tạo được một đội ngũ đông đảo cán bộ, công nhân có trình độ, tay nghề đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ. Họ đã vượt qua những khó khăn, hy sinh, gian khổ về mọi mặt, làm nên những điều kỳ diệu trong thiết kế, chế tạo vũ khí đạn dược cho kháng chiến.

Con người và vũ khí trong cuộc chiến hiện đại

PV: Trong mọi cuộc chiến, vũ khí luôn có vai trò đặc biệt quan trọng, được coi như sinh mệnh của người lính, liên quan đến thành-bại trên chiến trường. Để đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh hiện đại, những năm qua, Viện Vũ khí đã triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học với các sản phẩm cụ thể như thế nào, thưa đồng chí?

Đại tá Bùi Tuấn Anh: Với sự quan tâm của trên và nỗ lực của cán bộ, nhân viên, viện đã cùng với các đơn vị nghiên cứu, chế tạo thành công một số loại vũ khí có uy lực mạnh, như: Súng và đạn cối 100mm; súng và đạn chống tăng B41-M, súng và đạn B40 sát thương; đạn pháo chiến dịch nổ phá sát thương; súng và đạn cối triệt âm; súng phóng lựu ổ quay; nhiều loại kính ngắm quan sát, ngắm bắn ngày và đêm.

Hiện nay, viện cũng đang tích cực triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, trong đó có súng và đạn chống tăng, giáp phản ứng nổ một loại vũ khí công nghệ cao, lần đầu tiên ta làm chủ được thiết kế và quy trình chế tạo. Đây cũng là thành công của những nhà thiết kế và của các nhà máy công nghiệp quốc phòng. Trong năm 2015, viện được giao nhiệm vụ tổ chức bắn trình diễn các sản phẩm mới do công nghiệp quốc phòng nghiên cứu, chế tạo được thủ trưởng Bộ Quốc phòng đánh giá cao, và là một trong 10 sự kiện KHCN tiêu biểu toàn quốc năm 2015. Kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ chúng ta làm chủ được quá trình nghiên cứu và sản xuất vũ khí cho sư đoàn bộ binh trong cả điều kiện thời bình và thời chiến.

PV: Làm nên kỳ tích “từ không đến có” cả trong kháng chiến và kiến quốc, nếu nói một từ ngắn gọn, theo đồng chí, yếu tố quyết định là gì?

Đại tá Bùi Tuấn Anh: Là yếu tố con người. Con người dám nghĩ, dám làm.

PV: Là người có gần 40 năm công tác ở viện, cũng từng trực tiếp tham gia bảo đảm vũ khí trong chiến tranh biên giới phía Bắc, hình ảnh, kỷ niệm nào trong quá trình công tác mà đồng chí nhớ nhất? Trong công tác nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí hiện nay, điều gì còn là khó khăn, trăn trở?

Đại tá Bùi Tuấn Anh: Năm 1984, khi đang là Trợ lý nghiên cứu Phòng Súng-Pháo của viện, tôi được tham gia khai thác, nghiên cứu, cải tiến súng phóng lựu liên thanh MK19 để bắn được loại đạn cầu vồng với tốc độ bắn lớn. Với 4 tháng “cấp tốc”, chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ và được lệnh đưa ngay vũ khí mới lên mặt trận để đáp ứng yêu cầu chiến trường lúc bấy giờ. Trưa đến nơi, chúng tôi tổ chức tập huấn chỉ trong một ngày và đưa luôn lên chốt để bộ đội sử dụng ngay. Hình ảnh không thể nào quên là khi tôi ở vị trí tập kết, cách trận tuyến chừng 3km, được tiếp xúc với bộ đội từ chốt về. Họ trẻ lắm, chừng mười chín, đôi mươi. Bước từ nơi sinh tử về mà họ vẫn hồn nhiên, lạc quan. Ăn xong bữa cơm đạm bạc, có một giấc ngủ trưa ngắn ngủi rồi họ lại lên chốt, bình thản và nhẹ nhàng. Gương mặt trẻ trung, tư thế hiên ngang bước vào cuộc chiến của những người lính trẻ ngày ấy luôn bám riết tâm trí tôi.

Về khó khăn, trăn trở của những người làm công tác nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí hiện nay, tôi thấy đó là nguồn nhân lực KHKT tuy có gia tăng về số lượng nhưng chất lượng còn hạn chế, thiếu những kỹ sư giỏi, chuyên gia đầu ngành và chưa có các tổng công trình sư trong lĩnh vực vũ khí công nghệ. Mặt khác, tiềm lực về công nghiệp nói chung của ta so với khu vực và thế giới còn hạn chế, các sản phẩm công nghệ cao còn ít, điều đó ảnh hưởng tới tiềm lực công nghiệp quốc phòng. Trong xây dựng đội ngũ, nhất là nhà khoa học giỏi, chuyên gia đầu ngành về vũ khí hiện nay, cần có những cơ chế, chính sách đãi ngộ, sử dụng đặc thù để anh em yên tâm công tác và cống hiến…

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

THƯ BÌNH – BÍCH TRANG (thực hiện)