Những thăng trầm và mối quan hệ “tối lửa tắt đèn” có nhau

Phóng viên (PV): Lịch sử quan hệ hai nước Việt Nam và Cam-pu-chia đã trải qua nhiều thăng trầm với đường hướng chính là hữu nghị, đoàn kết. Đặc biệt trong thế kỷ XX, quan hệ hai nước đã trải qua những biến cố chưa từng có…

Ông Vũ Mão: Đúng là như vậy. Chúng ta đều biết, vào nửa cuối thế kỷ XIX, Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào lần lượt bị thực dân Pháp xâm chiếm, biến thành các xứ bảo hộ, thuộc địa của Pháp với cái tên “Đông Dương thuộc Pháp”. Họa mất nước, số phận nô lệ đã sớm gắn bó nhân dân Việt Nam và nhân dân Cam-pu-chia trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân Pháp. Ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp đặt chân lên đất nước Việt Nam và Cam-pu-chia, những người yêu nước của hai nước đã đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong đấu tranh. Nhất là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam và nhân dân Cam-pu-chia đã phát triển mạnh mẽ, rộng khắp. Nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết, lần đầu tiên các chiến sĩ cách mạng, Quân tình nguyện Việt Nam đã sang Cam-pu-chia, cùng đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh cùng nhân dân Cam-pu-chia tổ chức kháng chiến cho đến ngày thắng lợi.

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Pháp rút đi, Mỹ nhảy vào, thi hành chính sách can thiệp và vũ trang xâm lược ba nước Đông Dương. Trong cuộc đấu tranh với kẻ thù được coi là mạnh nhất thế giới, hai nước Việt Nam và Cam-pu-chia đã dành cho nhau sự giúp đỡ quý báu, chí tình, chí nghĩa. Lần thứ hai, Việt Nam đưa quân trở lại chiến trường Cam-pu-chia, phối hợp cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân Cam-pu-chia chiến đấu chống lại những cuộc hành quân xâm lược của Mỹ và tay sai. Đỉnh cao của tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân hai nước là sự phối hợp hành động trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975. Với thắng lợi năm 1975, lần đầu tiên trong lịch sử gần 100 năm, hai nước Việt Nam và Cam-pu-chia mới thực sự giành được độc lập hoàn toàn.

leftcenterrightdel
Ông Vũ Mão. Ảnh: THANH TÚ

PV: Đáng tiếc là, tiếng súng chống Mỹ vừa chấm dứt, nhân dân hai nước chưa một ngày được hưởng niềm vui thái bình thì ngay lập tức tập đoàn phản động Pôn Pốt, núp dưới chiêu bài “Cam-pu-chia dân chủ”, giả danh “Chủ nghĩa xã hội” đã thi hành chính sách diệt chủng đối với nhân dân Cam-pu-chia, đồng thời phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đây có lẽ đây là thời điểm đen tối nhất trong lịch sử quan hệ hai nước?

Ông Vũ Mão: Sau khi lên cầm quyền ở Cam-pu-chia vào tháng 4-1975, tập đoàn Pôn Pốt đã phạm các tội ác "trời không dung, đất không tha", giết hại dã man không chỉ người Cam-pu-chia mà còn cả người nước ngoài đang sống ở Cam-pu-chia và người Việt Nam sống gần biên giới với nước này. Bọn chúng đã thi hành chính sách diệt chủng đối với trí thức, người thành thị, người dân tộc thiểu số, kể cả nhiều đảng viên, công chức và binh lính của chế độ. Chúng vừa dìm nhân dân Cam-pu-chia trong bể máu vừa tiến hành thanh trừng nội bộ một cách tàn bạo. Khoảng 2 triệu người dân Cam-pu-chia, chiếm 1/4 dân số nước này khi đó đã bị chết dưới bàn tay khát máu của các tên đồ tể Khơ-me Đỏ.

Tập đoàn Pôn Pốt còn gây hấn, xâm lược và gây nhiều tội ác đẫm máu với nhân dân Việt Nam. Cuối năm 1978, chúng liều lĩnh huy động tới 23 sư đoàn tấn công đại quy mô vào Việt Nam.

Đáp lại lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia trước nguy cơ dân tộc bị diệt chủng, lần thứ ba các chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam lại có mặt kịp thời, cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân Cam-pu-chia tiến hành cuộc cách mạng lật đổ chế độ diệt chủng tàn bạo của Pôn Pốt. Thắng lợi ngày 7-1-1979 một lần nữa thể hiện quan hệ truyền thống gắn bó thủy chung, trọn nghĩa vẹn tình giữa hai dân tộc “tối lửa tắt đèn” có nhau. Đây là thắng lợi chung mà nhân dân hai nước đã đoàn kết cùng nhau lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt tàn bạo, cứu đất nước và nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng, mang lại sự hồi sinh cho đất nước và nhân dân Cam-pu-chia.

leftcenterrightdel
Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng trái bưởi do Người trồng cho Hoàng thân Nô-rô-đôm Phu-ri-sa-ra, Bộ trưởng Ngoại giao Vương quốc Cam-pu-chia năm 1967.

“Cầu nối” quan hệ hữu nghị

PV: Ông có tới gần 35 năm đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam-Cam-pu-chia. Những điều tâm đắc của ông khi cùng Hội làm chiếc “cầu nối” hữu nghị giữa hai nước trong những năm qua?

Ông Vũ Mão: Hội Hữu nghị Việt Nam-Cam-pu-chia được thành lập từ năm 1973 và Chủ tịch đầu tiên của Hội là bác Phan Trọng Tuệ, lúc đó là Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông, sau là Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông. Tới 10 năm sau, năm 1983, tôi được phân công tiếp nối công việc của bác Phan Trọng Tuệ làm Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam-Cam-pu-chia. Từ ngày thành lập, Hội đã có vị trí trong quan hệ của hai nước. Thuận lợi lớn là lãnh đạo của hai nước đều rất quan tâm đến hoạt động của Hội. Tôi cũng nói thêm rằng, bên ta là Hội Hữu nghị Việt Nam-Cam-pu-chia, bên bạn tương ứng là Hội Hữu nghị Cam-pu-chia-Việt Nam, cũng hình thành và hoạt động song song với chúng ta. Tuy nhiên, từ năm 1991 đến năm 2000, do tình hình chính trị, bên bạn có đa đảng, có bầu cử với sự tranh giành rất quyết liệt, là thời kỳ rất khó khăn cho Đảng Nhân dân Cam-pu-chia nên Hội Hữu nghị Cam-pu-chia-Việt Nam lúc đó không còn nữa. Đến khi Đảng Nhân dân Cam-pu-chia thắng cử và có vai trò chủ chốt trong đất nước thì những năm sau đó Hội của bạn mới được tái lập và hoạt động trở lại. Mặc dù trong thời gian khó khăn như vậy nhưng Hội Hữu nghị Việt Nam-Cam-pu-chia luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, tìm  cách hoạt động phù hợp với hoàn cảnh. Khi tôi còn đương chức, là Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, rồi sau là Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại, đồng thời là Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị, tôi đã linh hoạt dùng hình thức của nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt Nam-Cam-pu-chia cùng với nhóm hữu nghị của Cam-pu-chia do bà Men Xam-on làm Chủ tịch tìm cách hoạt động. Đến sau này, khi phía bạn có Hội rồi thì mọi hoạt động được nối lại. Tuy nhiên, bên bạn là đa đảng nên hoạt động của Hội bạn cũng rất khó khăn, nhiều lúc chúng ta cũng phải giúp đỡ vì một mục đích chung là tăng cường quan hệ hữu nghị nhân dân hai nước.

Những năm gần đây, Hội Hữu nghị Việt Nam-Cam-pu-chia đã khởi xướng và tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực. Đáng kể như, sáng kiến “Ươm mầm hữu nghị”. Hội đã vận động các đồng chí là cựu chuyên gia, cựu Quân tình nguyện Việt Nam giúp cách mạng Cam-pu-chia nhận đỡ đầu các cháu lưu học sinh Cam-pu-chia có thành tích học tập tốt, có hoàn cảnh khó khăn. Sáng kiến này đã làm thí điểm được 5 năm, mỗi năm có khoảng 50 học sinh Cam-pu-chia được nhận đỡ đầu. Bên cạnh đó, chúng tôi còn phối hợp với các cơ quan chức năng của hai nước có nhiều hình thức quan tâm, hỗ trợ các cựu quân tình nguyện có hoàn cảnh khó khăn. Hằng năm, nhiều đồng chí được trao tặng, người thì 10 triệu đồng, người thì 30 triệu đồng để sửa chữa nhà cửa hoặc hỗ trợ phát triển sản xuất… Ngoài việc phát triển Hội hữu nghị ở các tỉnh, thành, còn lập thêm các Hội hữu nghị của các đơn vị quân đội đã từng tham gia giúp Cam-pu-chia như: Mặt trận 479, 779, Quân đoàn 2, Quân đoàn 4…

PV: Chúng tôi được biết Hội không chỉ có những hoạt động đối ngoại nhân dân mà còn quan tâm đến việc đóng góp ý kiến, kiến nghị với Đảng, Nhà nước về các chính sách tăng cường quan hệ hữu nghị của hai nước về chính trị, văn hóa, giáo dục. Ông có thể nói cụ thể hơn về nội dung này?

Quan hệ hữu nghị Việt Nam và Cam-pu-chia có những bước thăng trầm, hiện nay chế độ chính trị ở Cam-pu-chia là đa đảng, hơn nữa sự tác động của nước ngoài vào Cam-pu-chia cũng rất mạnh mẽ, nhận thức sâu sắc về những đặc điểm ấy nên Hội Hữu nghị Việt Nam-Cam-pu-chia đã đi sâu nghiên cứu để kiến nghị với Đảng, Nhà nước nhiều vấn đề liên quan đến quan hệ chiến lược của hai nước. Ví dụ như: Quan hệ kinh tế của hai nước chưa phát triển tương xứng với quan hệ về chính trị. Nhiều hiệp định đã ký kết nhưng thực hiện chậm và kém hiệu quả. Chính sách của Nhà nước ta hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Cam-pu-chia còn hạn chế.

Về giao lưu văn hóa giữa hai nước ở mức thấp. Về giáo dục, ngoài việc nhận một số lượng lưu học sinh Cam-pu-chia sang học ở Việt Nam tương đối khá thì còn rất nhiều vấn đề về chế độ chính sách đối với các cháu chưa được giải quyết thỏa đáng. Hiện nay, cuốn từ điển Việt Nam-Cam-pu-chia vẫn chưa có là điều rất đáng tiếc.

Những thực tế nêu trên, Hội Hữu nghị Việt Nam-Cam-pu-chia đều quan tâm, có những kiến nghị thỏa đáng với các đồng chí lãnh đạo để mong sao quan hệ của hai nước được phát triển bền vững và thực chất.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

THƯ BÌNH - BÍCH TRANG (thực hiện)