Cùng đấu tranh cho hòa bình

Claudia Krich còn chia sẻ với báo chí một tấm ảnh kỷ niệm về những nụ cười trong ngày hòa bình đầu tiên ở Việt Nam. Trong tấm ảnh là ba người phụ nữ Mỹ đã ở lại Sài Gòn sau khi “chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng” rút khỏi thành phố. Trong ảnh, họ chụp với những người bộ đội. Bà Claudia Krich nhớ lại: “Ba người lính này có máy ảnh và họ đã chụp nhiều ảnh. Bức ảnh được chụp tại ngõ nhỏ nơi chúng tôi sống”.

Trong ảnh, Claudia Krich đeo kính, ngồi bên trái. Giữa là Julie Forsythe, lúc đó đã có hai nhiệm kỳ làm công tác từ thiện ở miền Nam Việt Nam. Sau này về Mỹ, Julie Forsythe làm công tác giảng dạy, từng là giáo sư trợ giảng tại Trường Đại học Landmark - trường dành cho sinh viên khuyết tật và tự kỷ. Kiến thức về Phật giáo của chị được tích lũy trong thời gian công tác ở Việt Nam trong chiến tranh. Bên phải là Sophie Quinn-Judge, nay là nhà Việt Nam học nổi tiếng, tác giả cuốn sách “Hồ Chí Minh những năm lưu lạc”. Theo Sophie Quinn-Judge, ba người bộ đội trong ảnh là các phóng viên quân đội.

leftcenterrightdel
Claudia Krich (ngồi bên trái) và hai người bạn Mỹ chụp ảnh kỷ niệm với ba chiến sĩ Quân Giải phóng  ngày 1-5-1975. Ảnh: Claudia Krich gửi Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng.

Báo Doanh nghiệp nhấn mạnh, cuối tháng 4-1975 đã có làn sóng dư luận rằng sau khi người Mỹ rút đi, sẽ có “tắm máu” khủng khiếp ở miền Nam Việt Nam, nhưng câu chuyện và những tấm ảnh Claudia Krich chụp đã cho thấy một Sài Gòn dưới những tia nắng hòa bình đầu tiên.

Nhân dịp này, qua Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, Claudia Krich bày tỏ mong muốn được biết những người bộ đội Việt Nam trong ảnh là ai, hiện nay ở đâu.

Cả ba người phụ nữ trong ảnh lúc đó đều thuộc trung tâm phục hồi chức năng dành cho nạn nhân Việt Nam thuộc Tổ chức xã hội dân sự Quaker của Mỹ tại Quảng Ngãi.

Tổ chức Quaker Hoa Kỳ nổi tiếng trên thế giới về tư tưởng chống chiến tranh. Các thành viên nam của Quaker trong lịch sử thường là những người từ chối nhập ngũ trong chiến tranh, cho đó là việc làm phi đạo lý, bất chấp đàn áp, tù đày. Các thành viên nữ thường tham gia công tác cứu trợ nhân đạo của các tổ chức dân sự thuộc “lực lượng thứ ba” tại các vùng có chiến sự. Tổ chức Quaker Hoa Kỳ cùng với Tổ chức Quaker Anh quốc đã được tặng Giải Nobel hòa bình năm 1948 do các cống hiến vì hòa bình trong và sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Theo luật Hoa Kỳ, Tổ chức Quaker đã đăng ký như một tổ chức xã hội.

Claudia Krich trở lại thăm Việt Nam tháng 11-2017 vừa qua, cùng với một số thành viên khác từng là chiến sĩ hòa bình Mỹ và là bạn của Việt Nam lâu năm, như Diane Jones, cũng từng làm công tác hỗ trợ tái định cư của Quaker cho nạn nhân chiến tranh ở Quảng Ngãi. Chị Diane Jones cùng chồng nổi tiếng trong các sách báo của Mỹ về Việt Nam, vì đã phát hiện ra một vụ thảm sát thường dân tại Quảng Ngãi bởi lính đánh thuê Nam Hàn. Dịp ấy, Claudia Krich và Diane Jones cùng một số người bạn Mỹ khác đã đi Quảng Ngãi tái ngộ bạn của họ, một “Việt cộng nằm vùng” thời chiến tranh, là “chị Mai” (bà Khưu Thị Hồng).

Từ quê nghèo đến phố lớn

Bà Claudia Krich kể tiếp với Báo Doanh nghiệp: “Tôi nằm trong số ít những người Mỹ còn ở lại Sài Gòn sau ngày 30-4-1975. Lúc đó đã có những tuyên truyền rất mạnh mẽ ở phương Tây rằng Quân Giải phóng tiến vào sẽ gây thương tích, giết chóc, hủy diệt. Nhưng sự thực không phải như vậy.

Lúc này tôi đã ở miền Nam Việt Nam được hai năm. Trước đó, chúng tôi sống ở Quảng Ngãi, một thị xã nhỏ, nghèo ở miền Trung, gần Sơn Mỹ, nơi chúng tôi điều hành một chương trình phục hồi chức năng cho nạn nhân chiến tranh, đón nhận các nhà báo và quan chức Mỹ. Trong suốt cuộc chiến tranh, các nhân viên cứu trợ dân sự Mỹ như chúng tôi sống ở một vùng được chính quyền Sài Gòn kiểm soát vào ban ngày và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam kiểm soát vào ban đêm. Khi chính quyền Sài Gòn bắt đầu vỡ vụn, chúng tôi về Sài Gòn. Về tới đó, chúng tôi kịp chứng kiến cuộc đầu hàng diễn ra trong hòa bình. Trên thực tế, chỉ 24 giờ sau khi các quan chức chính quyền cấp cao Sài Gòn rời khỏi Sài Gòn trên các trực thăng của Mỹ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tiếp quản thành phố.

Chúng tôi quyết định không về nước để tận mắt chứng kiến những thay đổi ở Sài Gòn. Vì vậy, khi người Mỹ xếp người di tản lên trực thăng ở Đại sứ quán Mỹ, chúng tôi không đi. Dĩ nhiên, nguy hiểm vẫn rình rập. Đây là một cuộc chiến tranh. Vẫn còn bom, rốc két, pháo và những loạt súng mà lính Sài Gòn bắn do hoảng sợ trong những ngày cuối cùng. Mỹ vẫn thử cả các thứ vũ khí không quy ước (vũ khí bị thế giới lúc đó cấm sử dụng, như bom CBU 55) đến tận những ngày cuối cùng của cuộc chiến ở Việt Nam.

Thật vậy, khoảng vài tuần trước khi chiến tranh kết thúc, chính quyền Sài Gòn đã ném bom hủy diệt CBU 55 vào thường dân Việt Nam, gây ngạt đến tử vong tất cả những con người và  con vật trong tầm thở oxi. Trước đó, Hoa Kỳ cũng từng thử chất độc da cam và vũ khí có phốt pho trắng trên người dân Việt Nam. Trong cuộc chiến, người Mỹ đã ném bom rải thảm, bom bi và đã gài ngàn vạn trái mìn. Giữa tháng 4-1975 đã xảy ra vụ chiếc máy bay C5A chở đầy trẻ em đi di tản bị mất lái đâm xuống đất, 138 người thiệt mạng. Về căn bản, dân cư ở Sài Gòn nói chung được cách xa vùng chiến sự ác liệt cho tới tận cuối cuộc chiến, trong khi dân chúng vùng xa cực khổ vì cuộc chiến tranh nhiều năm ròng. Tháng 4-1975, hiểm nguy chiến tranh đã lan tới nội thành Sài Gòn, làm dân chúng hoang mang.

Chúng tôi trải qua đêm 30-4 trong một ngôi nhà tại một ngõ hẻm. Sáng 1-5, các con đường ở Sài Gòn rất đông dân chúng. Nhiều xe chở quân và xe tăng bị kẹt trên đường phố. Chúng tôi thấy người dân ném hoa và thuốc lá lên các xe chở bộ đội. Mọi người đều chụp ảnh. Những người lính quân đội Sài Gòn cởi bỏ quân phục, nộp lại súng tại các điểm tập hợp vũ khí được lập ra, rồi nhập vào đám đông dân sự. Quân Giải phóng đóng trong các công viên của thành phố, giặt giũ và treo quần áo lên dây buộc giữa các gốc cây. Chúng tôi tiếp tục sống vài tháng nữa trong đời sống dân sự bình thường. Chúng tôi quan sát chính quyền mới được kiện toàn để hồi sức sau chiến tranh; cải thiện y tế cộng đồng, nhà cửa, giáo dục; tăng cường cung cấp nước và điện; cho đi học tập, “cải tạo” những quan chức cao cấp của chính quyền cũ còn ở lại miền Nam. Nhưng đã không có những đội xử bắn, không có tàn sát, tra tấn. Chính quyền mới tuân thủ cam kết coi hòa giải như con đường duy nhất để đoàn kết toàn dân và để đạt được tiến bộ xã hội.

Quả thực đã có không ít người Việt di tản trong những năm sau chiến tranh. Chính quyền mới với ngân khố ít ỏi đã phải đối diện với một làn sóng lớn những người tị nạn chạy từ Campuchia về sau khi Khmer Đỏ lên nắm quyền và vô số tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại. Cuộc cấm vận của Mỹ chống Việt Nam đã gây ra những đau khổ ghê gớm. Miền Nam Việt Nam từng xuất khẩu gạo, trong chiến tranh đã phải nhập gạo do các cánh đồng lúa bị tàn phá. Đã mất biết bao thời gian và nỗ lực để tháo dỡ mìn, để người dân có thể quay lại trồng cấy trên ruộng đồng.

Có một sự thật là những người Sài Gòn giàu có đã mất những tài sản lớn của họ. Hầu hết những tài sản này có được trong cuộc chiến tranh của Mỹ và thông qua những quan hệ với người Mỹ. Các nỗ lực hậu chiến nhằm tái thiết đất nước và phân chia lại tài sản. Nhưng chính quyền mới cố gắng tránh mọi sự báo thù và không giết hại những kẻ thù cũ. Họ mong muốn làm bạn với Mỹ, bất chấp cuộc chiến tranh lâu dài và tàn khốc vừa xảy ra. 

Hôm nay, xã hội Mỹ đã phong phú thêm nhờ những công dân Mỹ gốc Việt Nam, và Việt Nam cũng đang thịnh vượng hơn nhờ một quan hệ hòa bình với Mỹ”.  

LÊ ĐỖ HUY (trích dịch)