Giáo sư Giô-dép Da-gi-ốp (Joseph Zagioff) của Trường Đại học Pít-xbớc (Pittsburgh) đã có bài tham luận: “Việt Nam và Lào: Mối quan hệ đặc biệt”. Dưới đây là một số nội dung của bài tham luận.

Trong 4 thập kỷ vừa qua, các lãnh tụ cộng sản của Việt Nam và Lào đã phát triển những mối quan hệ thân tình. Họ đã cùng tham gia cuộc đấu tranh cách mạng chống lại chế độ thực dân Pháp. Sau khi Pháp thua trận, họ lại cùng đánh đuổi Mỹ khỏi đất nước mình. Trong nỗ lực hiệp đồng này, họ đã phát triển quan hệ mà cả hai bên đều chính thức gọi là “mối quan hệ đặc biệt”. 

Tôi cho rằng vận mệnh của Việt Nam gắn chặt với vận mệnh của Lào và Cam-pu-chia có nguồn gốc sâu xa trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết vào năm 1950: “Đông Dương là một đơn vị chiến lược, là một chiến trường thống nhất, vì thế chúng ta phải có nhiệm vụ giải phóng toàn bộ Đông Dương. Đặc biệt, do những lý do về địa lý chiến lược, chúng ta không thể coi Việt Nam là độc lập hoàn toàn, mỗi một khi Cam-pu-chia và Lào bị chủ nghĩa đế quốc thống trị”.

leftcenterrightdel
Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản (năm 1962). Ảnh tư liệu. 

Nguồn gốc của mối quan hệ đặc biệt được Thứ trưởng Ngoại giao Lào Sô-ban (Souban) nêu bật trong một cuộc trả lời phỏng vấn của tôi. Cho hay lịch sử đã đưa cả ba dân tộc Đông Dương vào một khối thống nhất, ông Sô-ban nói: “Về lịch sử, chúng tôi đã có nghĩa vụ giúp các bạn Cam-pu-chia và Việt Nam, và họ cũng có nghĩa vụ lịch sử giúp đỡ chúng tôi. Chúng tôi xem mối đe dọa nhằm vào Việt Nam hay Cam-pu-chia là mối đe dọa đối với Lào. Dù thế nào đi nữa, chúng tôi phải tham gia vào sự nghiệp giữ nước của các nước khác ở Đông Dương. Điều này do sự ràng buộc về lịch sử quy định”.

Đáp lại những cáo buộc Lào quá phụ thuộc vào Việt Nam, ông Thứ trưởng Ngoại giao Lào tuyên bố: “Người phương Tây khó mà hiểu những gì đang xảy ra tại phần đất này của thế giới. Các ngài cần hiểu đường hướng lập luận của chúng tôi. Cách chúng tôi giải phóng đất nước năm 1975 khác với cách của Việt Nam và Cam-pu-chia. Cách xây dựng CNXH của chúng tôi cũng mang đặc thù riêng. Nhưng chúng tôi phụ thuộc lẫn nhau. Đó là hiện tượng gặp ở mọi nơi. Chúng tôi cần sự giúp đỡ của những đất nước anh em”.

Cơ sở pháp lý cho mối quan hệ hữu nghị giữa Lào và Việt Nam, có hiệu lực từ ngày ký 18-7-1977, là một Hiệp định Hữu nghị có giá trị 25 năm. Bản hiệp định gồm 6 điều mô tả các nghĩa vụ của hai bên theo ngữ nghĩa rộng, bao gồm ba thỏa thuận về quốc phòng, hoạch định biên giới và viện trợ kinh tế của Việt Nam.

Điều 2 của Hiệp định là cơ sở cho hợp tác quốc phòng: “Hai bên hỗ trợ nhau trong duy trì hợp tác chặt chẽ nhằm tăng cường quyền lực quốc phòng, bảo đảm nền độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ… và trong đấu tranh chống lại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực đế quốc và phản động quốc tế”.

leftcenterrightdel
Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa phối hợp với công an tỉnh Hủa-phăn (Lào) triển khai kế hoạch đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy. Ảnh: Báo Biên phòng. 

Kênh quan trọng nhất trong nhiều kênh chuyển tải ảnh hưởng của Việt Nam tại Lào là quan hệ giữa hai Đảng, cả về mặt chính thức và không chính thức. Ở phía Việt Nam, cơ quan đặc trách quan hệ với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (LPRP) là CP - 38, hoặc Ban Công tác miền Tây. Ban này năm 1981 có 140 cán bộ Việt Nam. Các quan hệ không chính thức giữa những người đứng đầu LPRP với Đảng Cộng sản Việt Nam chắc cũng có tầm quan trọng không kém quan hệ chính thức.

Có tới 8 thành viên chủ chốt trong Bộ Chính trị LPRP đều từng là thành viên Đảng Cộng sản Đông Dương với một quá trình cùng công tác cả về chuyên môn và xã hội với các cộng sự người Việt. Nhiều người khác, bao gồm các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương LPRP đã phục vụ công cuộc đấu tranh giành độc lập cùng với người Việt Nam, từng được huấn luyện chính trị ở Việt Nam, thường xuyên cộng tác với cố vấn Việt Nam. Một trải nghiệm lâu như vậy hẳn sẽ làm thuận tiện mọi trao đổi, giao lưu với người Việt Nam.

Như trên đã nêu, sự có mặt của Quân tình nguyện Việt Nam trong chống Pháp và chống Mỹ mang tính lịch sử tất yếu. Hiện nay, quân đội Việt Nam giúp quân đội Lào trong công tác đào tạo, huấn luyện cho các sĩ quan cao cấp của Lào ở Việt Nam, cung cấp đội ngũ làm công tác huấn luyện về quân sự và chính trị cho quân đội Lào.

Trong khuôn khổ viện trợ cấp Chính phủ, đã có một sự viện trợ đáng kể của Việt Nam và một đội ngũ cố vấn dân sự đông đảo tại Lào. Một tài liệu Việt Nam viết: Về nông nghiệp, Việt Nam giúp Lào xây dựng hàng loạt cơ sở sản xuất như các xí nghiệp, các trại chăn nuôi, các nông trường quốc doanh, các cơ sở trồng và khai thác rừng, đường vận chuyển gỗ và các sản phẩm của rừng, sản phẩm của nhà máy cưa, sản phẩm của các nhà máy sản xuất nhựa thông, chiết xuất sen lắc, nông cụ, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc… Việt Nam cũng trợ giúp trong khảo sát và xây dựng các dự án dẫn nước, thủy lợi và các dự án nhà máy thủy điện.

Về công nghiệp, Việt Nam cung cấp cho Lào nguyên liệu thô, nhiên liệu và thiết bị để phát triển một số lượng các cơ sở công nghiệp sản xuất dụng cụ, xi măng và vật liệu xây dựng, một số nhà máy của ngành bưu chính viễn thông và giao thông vận tải, một số xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, khai thác mỏ như thiếc và thạch cao.

Việt Nam cũng giúp Lào sửa chữa và nâng cấp đường sá, xây dựng cầu đường mới, cải thiện lượng lưu thông đường thủy, xây dựng phà và các trạm sửa chữa ô tô. Một dự án liên doanh đang được triển khai nhằm xây đường giao thông từ Lào sang các cảng biển của Việt Nam ở miền Trung. Việt Nam cũng giúp Lào xây dựng công sở, có những nơi tới cấp huyện.

Về đào tạo, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Lào cho tôi hay, có 11 nghìn sinh viên được đi du học kể từ năm 1975, chủ yếu là tới các nước XHCN. Liên Xô nhận lượng lớn nhất lưu học sinh Lào, đứng thứ hai là Việt Nam.

Một quan chức nước ngoài xác nhận rằng, nhiều chuyên gia Việt Nam đặc biệt có năng lực và hiểu biết môi trường chính trị-xã hội của Lào, nhiều người trong số họ chân thành cống hiến cho sự phát triển của Lào.

Hợp tác của Lào với Việt Nam không chỉ mang lại sự viện trợ to lớn về kinh tế từ nước láng giềng, mà cả từ hệ thống XHCN. Rõ ràng là các nguồn vật lực trọng yếu đang trút vào các nỗ lực phát triển của Lào hiện đang tới mức tới hạn so với năng lực tiếp nhận của họ. Mặt khác, Lào cũng tự thu hẹp bởi định hướng chính trị của mình trong quan hệ với những nguồn hỗ trợ có thể thích hợp hơn cho nhu cầu phát triển của mình. Việt Nam, với nền kinh tế đang phát triển còn gặp muôn vàn khó khăn của mình chưa thể hội đủ điều kiện để trở thành nhà đỡ đầu toàn diện cho sự nghiệp hiện đại hóa của Lào, và khối các nước XHCN đã gánh vác những gánh nặng viện trợ khác dành cho Lào.

Việt Nam đang giúp Lào xây dựng một chế độ nhằm phát triển một dân tộc có bản sắc, cố kết chặt chẽ trên sự bình đẳng dành cho mọi công dân. Chính quyền Hà Nội đang hỗ trợ ban lãnh đạo Lào củng cố chính quyền và xây dựng một tư tưởng nhằm liên kết các thành viên đa dạng sinh sống trên đất nước Lào…

LÊ ĐỖ HUY (trích dịch)