Chính trị viên Tiểu đoàn 387 thuộc Đại đoàn 308-tiểu đoàn phòng không đầu tiên của Quân đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ... Mới đây, bà Bùi Phương Hạnh, con gái út của cụ, cho chúng tôi xem bản thảo một chương hồi ký của bố mình viết về một sự kiện ngoại giao độc đáo sau ngày Toàn quốc kháng chiến. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Tính đến ngày Mồng Một Tết Đinh Hợi (1947), Thủ đô ta kháng chiến chống thực dân Pháp đã qua 49 ngày đêm khói lửa. Tết năm ấy có hai việc mà chúng tôi, các chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô suốt đời không quên.

Việc thứ nhất, Giao thừa nổ súng đón Xuân rồi về nghe thư chúc Tết của Bác Hồ gửi trung đoàn. Còn 5 phút nữa đến Giao thừa, Trung đoàn trưởng Hoàng Siêu Hải thắp hương trên bàn thờ có ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa là bàn thờ Tổ quốc, vừa là bàn thờ gia tiên của một gia đình đã đi tản cư. Đồng chí trịnh trọng hô “nghiêm” rồi mở thư Bác ra đọc. Khi nghe đọc đến câu: “Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, một cậu khóc òa lên, làm cả trung đội cùng khóc, quên cả đứng nghiêm, ôm vai nhau mà khóc. Trung đoàn trưởng cũng khóc, phải ngừng một lúc lấy lại tinh thần rồi mới đọc tiếp được, giọng vẫn đầy nước mắt. Từ hôm làm lễ thề quyết tử, chúng tôi yên trí mình sẽ chết trong vòng vây dày đặc của kẻ thù, nhưng lúc ấy chúng tôi không hề khóc. Phần tôi, thề rồi viết thư về cho vợ dặn lấy ngày này làm ngày giỗ tôi, ở lại nuôi nấng hai con nên người, lúc ấy tôi cũng không khóc. Nhưng đêm Giao thừa Đinh Hợi, chúng tôi khóc thật sự vì lời Bác đi vào lòng chúng tôi, Bác hiểu lòng chúng tôi. Chính lời Bác đã thôi thúc các chiến sĩ Thủ đô quần nhau với giặc bằng dao găm và lưỡi lê tuốt trần dăm ngày sau Tết trong các trận Đồng Xuân, nhà Xô-va (Sauvage)...

leftcenterrightdel
Vợ chồng cụ Bùi Nguyên Cát tại lễ họp mặt truyền thống chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô ở Nhà hát Lớn Hà Nội, năm 1988. Ảnh chụp lại. 

Việc thứ hai, tôi cũng không bao giờ quên, là bữa tiệc ngoại giao tối Mồng Một Tết Đinh Hợi trong vòng vây của giặc Pháp.

Sau 49 ngày đêm khói lửa ác liệt, chúng tôi vẫn giữ được từ chợ Đồng Xuân xuống đến phố Cầu Gỗ; từ Hàng Thiếc, Hàng Bút sang đến bờ sông Hồng; dọc từ Trường Ke đến nhà Xô-va gần Bác Cổ... Chúng tôi vẫn quản gần nửa trong số 36 phố phường theo cái cách sau này gọi là quân quản. Vậy mà đài phát thanh của quân viễn chinh Pháp và của cả nước Pháp nữa, dám nói sa sả ra thế giới rằng họ đã chiếm đóng xong Hà Nội, diệt hết Việt Minh rồi! Để đập tan luận điệu lừa bịp nhân dân thế giới của thực dân Pháp, bằng một sự việc có thật, cấp trên chỉ thị cho Trung đoàn Thủ Đô chúng tôi tổ chức một bữa tiệc nhân ngày Tết, mời đại diện ngoại giao các nước còn có mặt tại Hà Nội đến dự, đủ mặt các Tổng lãnh sự Mỹ, Anh, Trung Hoa

Dân quốc, đại biểu Ấn kiều... Họ nhận lời đến dự tiệc chính là đã thừa nhận sự hiện diện của chính quyền ta ở thủ đô Hà Nội.

Đảng ủy, Ban chỉ huy trung đoàn phân công tôi chủ trì bữa tiệc ngoại giao phức tạp đó. Thấy tôi có vẻ do dự, vì cha sinh mẹ đẻ cho đến cái Tết đó là 26 tuổi, tôi chưa được học làm ngoại giao bao giờ. Đồng chí Lê Trung Toản, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn, bảo tôi: “Phải coi việc này là một trận chiến đấu đặc biệt, không dễ dàng đâu. Đoàn thể đã cân nhắc kỹ khi phân công đồng chí”. Thế là tôi nhận nhiệm vụ và quyết tổ chức thật chu đáo bữa tiệc ngoại giao theo mục đích, yêu cầu cấp trên đã đề ra. Về nghệ thuật nấu ăn, chúng tôi kén những bàn tay vàng của các cô gái Hàng Đường, Hàng Bạc và may mắn trong tự vệ thành lại có anh Cào, thợ nấu cỗ chuyên thầu các bữa cỗ Tàu cho các nhà giàu của Hà thành. Địa điểm mở tiệc chúng tôi mượn nhà ông chủ hiệu Anh Hoa, một tòa biệt thự đồ sộ ở Ngõ Gạch, nhà bày toàn đồ gỗ quý, đủ bát đĩa chén cốc vào loại sang nhất. Anh em xưởng quân trang của trung đoàn chuẩn bị cho cấp chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn mỗi người một bộ quân phục bằng vải ga-ba-đin loại sang, có quân hàm sao vạch vàng trên nền đỏ, mẫu quân hàm do chúng tôi sáng tác vô tình lại đúng với mẫu quân hàm chính quy của Quân đội ta sau này. Riêng tôi sắm vai “Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu 1” chủ tọa bữa tiệc và anh Hoàng Phương, Tham mưu trưởng Trung đoàn, vốn là một sinh viên trường Canh nông sắp tốt nghiệp, sắm vai phiên dịch cho tôi thì được may đo bộ com-plê bằng hàng Đoóc-mơi (Dormeuil) rất sang.

Đúng 5 giờ chiều Mồng Một Tết, các quan khách đủ mặt. Các tổng lãnh sự Mỹ, Anh, Trung Hoa Dân quốc và đại diện Ấn kiều mặc lễ phục, người của họ đi trước 5m giương quốc kỳ nước họ để được phép đi qua các trạm gác của ta và của Pháp như đã quy ước. Mấy hôm trước, tôi đã tập thử cho quen các động tác ngoại giao, nên lúc họ đến tôi đĩnh đạc, niềm nở xuống bắt tay từng viên tổng lãnh sự. Khi các cô gái xinh đẹp mặc áo dài đưa ra rượu khai vị, Tổng lãnh sự Anh tròn mắt không giấu sự ngạc nhiên: “Các ngài vẫn có rượu Mác-ti-ni (Martini) chính cống!”. Rồi ông ta ngập ngừng ngỏ ý xin tôi cho phép chụp một “pô” ảnh dưới chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, để “kỷ niệm một cái Tết trong Hà Nội thời chiến”.

Từ vị trí chủ tọa, tôi đọc một bài diễn văn ngắn gọn, tất nhiên bằng tiếng Việt, anh Hoàng Phương dịch ra tiếng Anh, nói rõ 3 ý: Việc cầm súng kháng chiến của Việt Nam là chính nghĩa; chúng tôi sẽ nhận được sự đồng tình của nhân dân Pháp và thế giới; quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ độc lập, tự do. Theo thông lệ ngoại giao, viên Tổng lãnh sự Mỹ Xu-li-van (Sullivan) là người cao tuổi nhất trong các Tổng lãnh sự làm trưởng đoàn ngoại giao, đứng dậy ứng khẩu đáp từ, có câu kết khá bất ngờ: “Kiên nhẫn, các ngài sẽ là người chiến thắng!”. Lúc đầu nghe câu này tôi ngỡ mình nghe nhầm, nhưng nhìn vẻ xúc động của ông ta, tôi biết là đúng như vậy. Mọi người vỗ tay kéo dài hưởng ứng, khi ông kết thúc bằng câu: “Nhờ ngài Chủ tịch Liên khu chuyển lời chúc sức khỏe Cụ Hồ kính mến”. Sau này được biết, Bộ chỉ huy Pháp tại Hà Nội tức tối chất vấn các Tổng lãnh sự, họ yêu cầu chính ông Xu-li-van cải chính câu nói ở cuộc chiêu đãi.

Viên Tử Kiện, Tổng lãnh sự Trung Hoa Dân quốc vốn rất sành ăn cũng phải khen rượu ngon, khen bếp ta nấu giỏi không kém các đầu bếp Nam Kinh, Thượng Hải. Ông ta nói thạo tiếng Việt, quay sang tôi nói: “Nhân dịp này, tôi xin thay mặt bà con Hoa kiều hết lòng cảm tạ nhà đương cục Việt Nam lâu nay vẫn chu cấp lương thực cho Hoa kiều. Tôi mong rằng các ngài sẽ tiếp tục tấm lòng bao dung độ lượng sẵn có trong thời gian tới”. Qua câu nói đó, tôi đọc được ngay ẩn ý muốn thăm dò khả năng của trung đoàn có còn đủ lương thực để trụ lại nội thành được bao lâu nữa. Anh Lê Trung Toản ngồi kín đáo giữa các sĩ quan ta đưa mắt nhắc nhở tôi cảnh giác. Tôi bình thản trả lời họ Viên: “Ngài yên tâm. Kho dự trữ trong nội thành Hà Nội còn đủ lương thực, súng đạn cho chiến sĩ chúng tôi chiến đấu lâu dài, vậy thì bà con Hoa kiều vẫn có cái ăn. Tiện đây cũng xin nhắc ngài, nếu ngài xin phép vận chuyển lương thực, thực phẩm cho Hoa kiều, chúng tôi sẽ tạo điều kiện dễ dàng”. Họ Viên đứng dậy, cúi rạp cảm tạ. Bữa tiệc kết thúc bằng quả tươi, chè kho.

Ngay khuya hôm đó, trong bản tin cuối ngày, Đài Tiếng nói Việt Nam phát bản tin ra thế giới về bữa tiệc, tất nhiên không quên đưa nguyên văn lời chúc của Tổng lãnh sự Mỹ Xu-li-van: “Kiên nhẫn, các ngài sẽ là người chiến thắng!”. Và cũng viên Tổng lãnh sự này, sau khi dự tiệc trở về đã viết thư cho Tổng lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn, G.Ác-bớt, có đoạn đánh giá: “Thật kỳ tài, bữa tiệc Tết của tự vệ Việt Minh diễn ra ngay giữa vòng vây của quân đội Pháp”.

Hôm sau, trung đoàn chúng tôi nhận được điện của Bộ Ngoại giao ta khen trung đoàn đã tổ chức bữa tiệc ngoại giao có ý nghĩa. Lúc ấy, tôi mới thở phào nhẹ nhõm.

Đến hôm nay, mỗi lần Tết đến, tôi lại nhớ Tết Đinh Hợi 1947, mở đầu bằng Giao thừa nghe đọc thư Bác và kết thúc bằng bữa tiệc ngoại giao đầu tiên trong đời tôi!

BÙI NGUYÊN CÁT