Đặc biệt, giai đoạn 1977-1979, trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam, đơn vị đã đứng vững trên vị trí tiền tiêu, kiên cường đánh trả địch, có những trận lập công xuất sắc. CCB Phạm Ngọc Bảo, nguyên Đồn trưởng Đồn Biên phòng Lò Gò, vẫn vẹn nguyên trong ký ức những tháng ngày đặc biệt anh dũng, kiên cường...

Trận địa dưới... lòng đất

Khoảng đầu năm 1977, tình hình khu vực biên giới Tây Nam khá căng thẳng. Theo nhận định của trên, quân Pôn Pốt có thể đánh sang biên giới ta bất cứ lúc nào. 

Từ tháng 5-1977, Ban chỉ huy đồn lúc bấy giờ gồm: Trung úy, Đồn trưởng Trịnh Huy Phương; tôi-lúc đó là Trung úy, Chính trị viên và đồng chí Nguyễn Văn Đực-Phó đồn trưởng, đã thống nhất kế hoạch đào giao thông hào và hệ thống hầm ngầm xung quanh đồn. Hệ thống phòng thủ được tổ chức thành 3 điểm chốt ở 3 góc theo hình tam giác bao quanh đồn. Sau khi hệ thống hầm hào công sự được hoàn tất, chúng tôi đã cho chuyển toàn bộ vũ khí, trang bị, phương tiện vật chất, lương thực, thực phẩm xuống 3 điểm chốt này. Tại mỗi điểm chốt lại có những hầm nhỏ, mỗi hầm chứa được 2 người, còn lương thực được cho vào những thùng sắt cất giấu trong những hầm riêng rải rác xung quanh. Chúng tôi cho đào một cái giếng rộng khoảng 7-8m2, sâu 15m để phục vụ sinh hoạt.

leftcenterrightdel
Tuổi trẻ công an, BĐBP tỉnh Tây Ninh tại Bia tưởng niệm liệt sĩ Đồn Biên phòng Lò Gò. Ảnh: TRUNG KIÊN

Với hệ thống giao thông hào sâu đến 1,5m, mọi hoạt động của đồn vẫn diễn ra bình thường, các kíp gác tiến hành trực sẵn sàng chiến đấu 24/24 giờ. Nhìn bên ngoài, không ai biết chúng tôi đã chuyển hoàn toàn sinh hoạt xuống... lòng đất. Hằng ngày, cán bộ, chiến sĩ được ăn một bữa cơm trưa, các bữa còn lại thì ăn lương khô và các sản phẩm như cá, thịt hộp... Về nước thì tất nhiên rất thiếu thốn. Anh em phải “tắm khô” hằng tuần. Sáng sáng, mỗi đồng chí mang một bình tông đi lấy nước ở giếng để sinh hoạt cho cả ngày, vừa làm nước uống vừa vệ sinh cá nhân. Trong điều kiện vất vả, khó khăn như thế nhưng tinh thần chịu đựng gian khổ, vượt khó của anh em rất tốt.

Cánh cổng đồn không thể bước qua

Cuộc sống “dưới lòng đất” như thế diễn ra trong vài tháng. Khoảng 8 giờ ngày 22-1-1978, bỗng hàng loạt tiếng nổ đinh tai nhức óc của pháo cối địch trút như mưa xuống đồn. Quân Pôn Pốt bắn như vãi đạn từ bên kia sông Vàm Cỏ. Tôi lệnh cho anh em vào ngay vị trí chiến đấu. Cầm chắc súng trên tay, tôi căng mắt nhìn. Khói, bụi, tức ngực, khó thở, tai ù đi, tôi tự nhủ: “Phải thật bình tĩnh!”. Hướng đông nam đồn nơi tôi chỉ huy đang hứng chịu hỏa lực tập trung của địch. 20 phút sau, tiếng pháo cối im bặt. Nhìn ra, địch đang bò lổm ngổm như cua trước cổng đồn, tôi hô to: “Các đồng chí, địch đang đổ bộ! Sẵn sàng! Bắn!”.

Cùng lúc, tôi rê nòng súng quét một lượt. Tiếng pháo kích của ta bắn trả mãnh liệt. Tiếng mìn nổ ầm ầm. “Địch vướng phải bãi mìn của ta rồi!”- tiếng đồng chí nào đó reo to giữa ánh chớp sáng lòa. Bên ngoài, xác địch nằm la liệt. Hàng rào dây thép gai phía ngoài cổng đồn cũng trở thành một trợ thủ đắc lực cho quân ta tiêu diệt Pôn Pốt. Vướng phải bãi mìn và hàng rào thép gai, bị tiêu hao lực lượng, quân địch không dám hung hăng nống lên nữa.

Cứ như vậy suốt một ngày đêm, địch định tiến vào lại gặp phải sự chống trả quyết liệt của quân ta, chúng không tài nào bước qua được cánh cổng đồn. Sau nhiều đợt tấn công, lực lượng bị hao hụt quá nhiều, chúng đã phải rút lui...

KHÁNH AN