Giai đoạn 1969-1972, huyện Bô Ly Khăm Xay là vùng địch hậu của ngụy quyền Viêng Chăn (Lào). Huyện nằm ở khu vực miền Trung, có quốc lộ 13 là con đường huyết mạch chạy dọc sông Mê Công, kết nối thủ đô Viêng Chăn với hai miền Nam-Bắc Lào. Từ đây, địch có thể kiểm soát được một khu vực rộng lớn và có khả năng chi viện cho cả hai miền.

Để bảo vệ hậu cứ, địch sử dụng một tiểu đoàn bộ binh khoảng 800 quân, trong đó vị trí chỉ huy nằm ở trung tâm huyện. Một đại đội được bố trí ở thị trấn Pakkading để bảo vệ vị trí chỉ huy, một đại đội đóng quân tại cầu Phác Xá (nằm trên Quốc lộ 13, cách thị trấn Pakkading 5km), hai đại đội còn lại được bố trí ở các ấp chiến lược và chốt giữ một số vị trí quan trọng. Chúng xây dựng nhiều đồn bốt, rải nhiều lớp hàng rào, vật cản, trang bị nhiều hỏa lực mạnh như pháo cối, đại liên…, tiến hành tuần tra, canh gác rất cẩn mật xung quanh vị trí đóng quân.

Trong khi đó, nhằm mở rộng vùng giải phóng, chính quyền cách mạng Lào được sự giúp đỡ của đoàn chuyên gia Việt Nam triển khai nhiều phương án đánh địch tại huyện Bô Ly Khăm Xay. Đầu tháng 2-1969, ông Phạm Thanh Phú làm đội trưởng đội công tác địch vận. Đội có 32 người, chia thành 3 tiểu đội, gồm bộ đội (Việt Nam và Lào), cán bộ Huyện ủy Bô Ly Khăm Xay. Để tiện hoạt động, đội đã chia nhỏ lực lượng vào các bản làng. Ban đêm, chiến sĩ của ta vào nhà ruộng (nhà làm ngoài rẫy) để “bắt rễ” với nhân dân, tuyên truyền đường lối cách mạng, nói rõ tội ác của ngụy quyền và đế quốc Mỹ, đồng thời tổ chức khám bệnh cho bà con và vận động con em trong gia đình bỏ hàng ngũ địch. Ban ngày, ta rút ra rừng, phân tích, nghiên cứu tình hình địch và xác định những đối tượng cần tập trung tuyên truyền.  

leftcenterrightdel
Ông Phạm Thanh Phú.

Đặc biệt, trong thời gian này, đội công tác đã cứu sống vợ của tên trung tá tình báo ngụy quyền Viêng Chăn. Được biết, tên này rất tàn bạo, có vai trò quan trọng trong điều hành mạng lưới tình báo của địch tại huyện Bô Ly Khăm Xay. Ông Phú nhớ lại: “Vợ tên này vào lúc sinh con bị băng huyết. Người bố chồng đã nhờ một người dân đưa ông ta ra rừng gặp bộ đội để xin cứu chữa cho con dâu. Trước tình thế cấp bách, tôi chỉ huy bộ đội canh gác một số vị trí quan trọng trong bản để bảo vệ an toàn cho quân y cứu chữa sản phụ”.

Mặc dù dụng cụ y tế thiếu thốn nhưng quân y của đội công tác đã tận tình cứu chữa, tiến hành cầm máu, truyền dịch… giúp sản phụ qua cơn nguy kịch. Cũng từ đó, tên trung tá mang ơn bộ đội ta, hắn đã điều quân đi vùng khác và “làm ngơ” cho ta hoạt động. Nhờ vậy, đội có nhiều thuận lợi trong tuyên truyền, nhiều cơ sở bí mật của ta đã được hình thành trong căn cứ của chúng. Trinh sát có điều kiện theo dõi để nắm đội hình đóng quân và quy luật hoạt động của địch. Trên cơ sở đó, chính quyền cách mạng Lào cùng đoàn chuyên gia xây dựng kế hoạch chiến đấu tại thị trấn Pakkading và giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia chiến đấu.

15 ngày trước khi trận đánh diễn ra, quân ta cơ động đến vị trí tập kết bí mật để chờ thời cơ. Rạng sáng ngày 28-4-1969, lệnh xuất kích được chỉ huy truyền tới các đơn vị, đội công tác địch hậu có nhiệm vụ dẫn đường. Đúng giờ G (4 giờ sáng), 3 phát pháo hiệu được bắn lên, quân ta đồng loạt nổ súng tiêu diệt mục tiêu. Bị đánh bất ngờ, địch bỏ chạy tán loạn, không kịp phản kháng. Hơn 30 phút chiến đấu, lực lượng của ta đã làm chủ trận đánh, tiêu diệt nhiều quân địch và thu chiến lợi phẩm.

Tin thắng trận được lan truyền khắp nơi, chính quyền cách mạng Lào đã kiểm soát được thị trấn Pakkading, người dân vô cùng phấn khởi. Còn đối với ông Phú, sau khi rút về căn cứ, niềm vui sướng dâng trào, ông đã sáng tác bài thơ tuyên truyền “Mừng chiến thắng vùng địch hậu huyện Bô Ly Khăm Xay”. Trong đó có đoạn: Hỡi ai công tác chuyên môn/ Công tác địch hậu tuyên truyền ra sao/ Cố gắng ta hãy đi vào/ Sát nách thành địch ta hào, ta hô/ Lôi kéo quân địch hững hờ/ Bỏ hàng ngũ địch quay về với ta/ Đến ngày kết thúc, chúng ta/ Về đây gặp mặt chan hòa báo công.

Bài và ảnh: BIỆN VĂN CƯỜNG