Sau gần 6 tháng huấn luyện, các chiến sĩ lần lượt được bổ sung cho chiến trường, trong đó chúng tôi gồm ba đại đội của Tiểu đoàn 52 (Đại đội 37, Đại đội 39, Đại đội 40) tăng cường vào Sư đoàn 968 Quân tình nguyện Việt Nam, đứng chân trên chiến trường Nam Lào.

Vừa chân ướt chân ráo vào đơn vị mới, tháng 5-1972, chúng tôi đã tham gia chiến dịch giải phóng Khongxedon và tiếp đó là 128 ngày đêm chiến dịch giải phóng Salavan (từ 18-10-1972 đến 22-2-1973), góp phần buộc địch phải ký Hiệp định Viêng Chăn, đem lại thắng lợi to lớn cho cách mạng Lào. Nhiều người trong chúng tôi đã ngã xuống mảnh đất này…

Cuối tháng 12-1974, sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Lào, Sư đoàn 968 được lệnh trở về Tổ quốc, chuẩn bị tham gia chiến dịch giải phóng Tây Nguyên. Lúc này, trong đội hình sư đoàn chỉ có Trung đoàn 19 và 29 (do Trung đoàn 9 đã về nước từ tháng 1-1974, Trung đoàn 39 ở lại tiếp tục giúp bạn Lào).

leftcenterrightdel
CCB Bùi Thượng Toản. Ảnh VIỆT TÙNG. 


Đã nhiều năm chiến đấu trên đất nước bạn, khi được nghe phổ biến nhiệm vụ về nước chiến đấu, ai nấy đều háo hức đợi chờ. Chúng tôi hành quân về chiến trường miền Nam bằng xe cơ giới của Bộ đội Trường Sơn. Sau khi đặt chân lên Tây Nguyên, Trung đoàn 29 thay Sư đoàn 10 ở địa bàn tỉnh Kon Tum, còn Trung đoàn 19 tiếp quản địa bàn của Sư đoàn 320A tại tỉnh Gia Lai. Đại đội tôi chốt ở nam Đường 19, cách thị xã Plei-cu không xa. Một trung đội do Trung đội trưởng Nguyễn Hồng Lâm chỉ huy, chốt tại A5, A7, A9, Củ Khoai... đối diện với Đồn Tầm-Chốt Mỹ, hằng ngày đào hầm hào, củng cố trận địa. Lực lượng còn lại làm công tác bảo đảm và sẵn sàng đánh địch, chi viện chốt. Ngày 1-3-1975, trung đoàn tôi được lệnh tấn công cứ điểm Đồn Tầm-Chốt Mỹ.

Đồn Tầm trước đây do quân Mỹ chốt giữ, từ sau Hiệp định Paris, quân ngụy Sài Gòn thay thế. Đây là cứ điểm quan trọng của địch, án ngữ phía tây nam thị xã Plei-cu. Tại đây, địch bố trí một đại đội biệt động quân trấn giữ, có hàng rào kẽm gai bảo vệ và các bãi mìn chống thâm nhập. Bên trong có lô cốt, hầm ngầm kiên cố, nối nhau bằng hệ thống giao thông hào chằng chịt, dùng bao cát xếp cao hai bên thành công sự. Ngoài ra, cứ điểm này còn có trận địa pháo hạng nặng ở Hòn Rồng, Bầu Cạn chi viện.

Về phía ta, để bảo đảm chắc thắng cho trận mở màn, ta đã tổ chức hỏa lực, gồm 2 khẩu pháo 85mm, 3 khẩu pháo 122mm, 3 khẩu cối 120mm, 6 khẩu ĐKZ 75mm, 4 khẩu cối 82mm và 3 súng máy 12,7mm. Bộ binh tấn công, sử dụng hai đại đội của Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 19). Đêm 28-2 rạng ngày 1-3-1975, quân ta chiếm lĩnh trận địa, đào xong công sự, sẵn sàng chờ lệnh tiến công. Đúng 16 giờ ngày 1-3, từ cao điểm Chư Nghé, ba phát pháo hiệu xanh vút lên không trung, báo hiệu giờ G đã đến. Lập tức pháo của ta đồng loạt bắn vào Bộ tư lệnh Quân đoàn 2, sở chỉ huy tiền phương Sư đoàn 23 ngụy, căn cứ pháo binh của địch ở Hòn Rồng, Bầu Cạn. Đồn Tầm-Chốt Mỹ bị pháo ta dồn dập nhả đạn trùm lên cứ điểm. Ngay từ loạt đạn đầu đã phá sập hầm chỉ huy và hầm thông tin của địch. Sau 30 phút bắn phá, pháo ta chuyển làn. Bộ binh dùng bộc phá đánh tan các lớp hàng rào kẽm gai của địch và nhanh chóng tiêu diệt lô cốt đầu cầu. Địch dựa vào hệ thống hầm hào kiên cố chống cự quyết liệt. Trong khi hướng chính do Đại đội 6 đảm nhiệm gặp khó khăn thì trên hướng thứ yếu Đại đội 11 đã mở xong cửa mở, xung phong đánh chiếm các vị trí theo kế hoạch, đồng thời tổ chức một mũi vòng bên ngoài cứ điểm, theo Đường 19 đánh thẳng vào khu thông tin. Địch phải rút sâu và co cụm vào bên trong để chống trả.

leftcenterrightdel

Những chiến sĩ Quân tăng cường Thủ đô năm xưa vui mừng trong ngày hội ngộ trong đội hình Sư đoàn 968. Ảnh: TUẤN TÚ.


Nhân cơ hội đó, Đại đội 6 tổ chức hai mũi tiến công: Mũi bên phải do đại đội trưởng chỉ huy đánh vào trung tâm cứ điểm, mũi bên trái do chính trị viên chỉ huy lần lượt đánh vào kho hậu cần, vũ khí, nhà chỉ huy của địch. Đến lô cốt cuối cùng, Chính trị viên Đậu Vĩnh Nguyên hy sinh. Trung đội trưởng Phan Văn Láy nhận lá cờ Giải phóng từ tay đồng chí Nguyên, xốc tới cắm lên trung tâm chỉ huy của địch.

Sau một giờ chiến đấu, ta tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Đồn Tầm-Chốt Mỹ, thu toàn bộ vũ khí cùng nhiều trang bị khác.

Sau đó, trung đoàn tiếp tục phát triển, tiến công các căn cứ địch ở Chư Gôi, Chư Kra, điểm cao 605, quận lỵ Thanh An, căn cứ Thanh Bình... Mờ sáng 16-3, khi tiếp cận Thanh An, bất ngờ tôi gặp Hồng. Hồng bảo: “Thằng Chanh hy sinh hôm qua rồi”. Chỉ kịp nói với nhau có thế, rồi chúng tôi mỗi người đi một ngả theo nhiệm vụ của mình. Thật không ngờ, khoảng nửa tiếng sau tôi được tin Hồng cũng hy sinh.

Nguyễn Văn Chanh và Nguyễn Mạnh Hồng đều là người huyện Đông Anh, cùng nhập ngũ và ở đại đội hồi huấn luyện với tôi. Khi vào chiến trường, chúng tôi được bổ sung vào Trung đoàn 19, nhưng khác tiểu đoàn. Chanh cao ráo, rắn rỏi, mũi cao, tóc hơi xoăn. Hồng cao hơn nhưng gầy, da trắng, từng là tay đập bóng chuyền rất đáng nể. Cũng trong trận đánh này, Tiểu đoàn 52 Hà Nội còn mất Đinh Xuân Dung, đến nay vẫn chưa tìm được phần mộ. Cả ba người nguyên là chiến sĩ Đại đội 37, Tiểu đoàn 52 Quân tăng cường Thủ đô...

Chúng tôi, những chiến sĩ Quân tăng cường Thủ đô tự hào có một thời đã sống, chiến đấu và hy sinh như thế!

TRẦN XUÂN SÁNG (Theo lời kể của CCB Bùi Thượng Toản, nguyên chiến sĩ Quân tăng cường Thủ đô)