Đúng dịp Tết Giáp Dần 1974, địch điều động liên đoàn 8 và liên đoàn 12 biệt động quân, cùng 4 tiểu đoàn địa phương tiến hành phong tỏa, sục sạo vùng tứ xã. Chúng phát lệnh cấm dân 10 ngày trước, trong và sau Tết không được làm đồng và đi lại trên các con kênh ở phía tây, phía bắc khu đồng bưng thuộc vùng căn cứ của ta. Mục đích của địch là tổ chức trận càn “Tam Tân” (Tân Nhật, Tân Túc và Tân Tạo), đánh phá vào căn cứ hậu cần, vị trí ém quân của ta hòng tiêu diệt và đẩy xa lực lượng ta ra khỏi vùng đệm, cố sức bảo vệ Sài Gòn.

leftcenterrightdel
Hoàng Xuân Mộc-Ba Hoàng (ngoài cùng, bên phải) cùng Ban chỉ huy Sư đoàn 302, Quân khu 7 ở Campuchia (tháng 1-1979). Ảnh tư liệu.

Khoảng 13 giờ ngày Mồng Hai Tết, Ba Hoàng nhận nhiệm vụ và một mình cải trang đi trinh sát tình hình chung ở phía đông rạch Láng Le hướng rẽ đi xã Tân Tạo. Từ xa phát hiện có người dắt trâu trên cánh đồng lác đi về phía Tân Tạo, Ba Hoàng nghi ngờ đặt câu hỏi, tại sao bọn địch cấm dân ra đồng, vậy mà lại có người dắt trâu đi như vậy? Nhìn kỹ Ba Hoàng nhận ra đó chính là con trâu nhà bác Bảy Thiệu ở ấp 5, xã Tân Nhật. Tập tục từ xưa, dân chỉ cần làm cần quay buộc trâu quanh năm ngoài đồng, nếu đưa vào ấp sẽ không có chỗ nhốt và sợ bom pháo. Vậy là Ba Hoàng quyết định lội vòng đón đầu bờ đắp (ngả Tân Tạo), theo trục đường vòng lên cây số 6. Người dắt trâu đi một mình, thẳng hướng Ba Hoàng đang phục đón đầu, cách chừng hơn chục mét Ba Hoàng nhận ra là lính biệt động địch. Thân hình hắn khá to cao, lực lưỡng, râu ria xồm xoàm, cởi trần, áo rằn ri quàng vai cùng áo giáp và khẩu M14 vắt vẻo bên hông, ngực lộ rõ hình xăm đầu trâu, vẻ mặt khá dữ dằn, ngông nghênh. Không do dự, Ba Hoàng nâng khẩu K54, lên đạn và chĩa thẳng hướng ngực tên lính miệng quát lớn. Bị bất ngờ, tên lính hoảng hốt, mặt tái mét, lẩy bẩy vội xưng danh và trình bày do chơi bạc mấy ngày Tết, nhưng bị bọn cấp trên ăn chặn hết, nhân thể hôm nay đi trinh sát địa hình, “mượn tạm” con trâu của dân để bán lấy tiền xài và trả nợ.

Ba Hoàng yêu cầu tên lính lôi trâu đi dưới ruộng lầy cách bờ đắp mà Ba Hoàng đang đi sau chừng bốn, năm mét.

Chừng hai mươi phút, gần tới phía đông căn cứ Láng Le, Ba Hoàng phát ám hiệu (3 hồi tiếng chim bìm bịp), vậy là 3 đồng chí của đơn vị đã vượt kênh sang giúp Ba Hoàng bắt trói tên lính ngụy. Sau sơ bộ khai thác, tên này ngoan ngoãn khai:

- Tôi là thiếu úy Nguyễn Lơ, quê Bình Định, đi lính từ thời ông Diệm, năm 1972 đánh nhau ở thành Quảng Trị, bị Quân Giải phóng bắt làm tù binh, được trao trả ở bờ Thạch Hãn tháng 10-1973. Sau đó về đăng lại vào lính biệt động quân, sau đợt này chuẩn bị về nghỉ hưu…

Khi khám xét, trên người hắn có một số giấy tờ quan trọng và 3 tấm “anh dũng bội tinh”. Hắn thuật lại kế hoạch và nhiệm vụ của bọn địch, sau đó khẩn thiết cầu xin:

- Tôi biết là tôi có tội đáng chết, ai ngờ xứ sở này lại gặp mấy ông Việt Cộng, xin các ông bắn bỏ, thả tôi xuống sông, nhớ đeo giùm cái thẻ quân ở cổ, để xác trôi ra sông Chợ Đệm, tới cầu Bình Điền, may ra chiến hữu vớt được thì phúc cho gia đình, vợ con được hưởng tiền trợ cấp…

Tới 16 giờ cùng ngày, nhóm Ba Hoàng bàn giao tên lính này cho anh Ba Điệp và anh Chín Toản thuộc Đại đội vũ trang huyện đội Bình Chánh.

Qua lời khai của tên thiếu úy Nguyễn Lơ, ta nắm được âm mưu mở trận càn “Tam Tân” nên đã kịp thời báo động cho các đơn vị, tiến hành sơ tán phòng ngừa và chuẩn bị tốt mọi mặt để chống càn. Cùng thời điểm đó, Ba Hoàng quyết định sang căn cứ huyện Bình Chánh, bàn bạc cùng chỉ huy cử người vô ấp, chỉ đạo cơ sở tung tin thiếu úy Nguyễn Lơ đã ra đầu hàng Quân Giải phóng. Viết truyền đơn kêu gọi binh sĩ liên đoàn 8 và liên đoàn 12 địch theo Nguyễn Lơ về với cách mạng. Vậy là địch biết kế hoạch của chúng bị bại lộ nên hoãn trận càn, ta bảo toàn căn cứ.

ĐỖ CÁC ĐÔNG

(Theo lời kể của cựu chiến binh Hoàng Xuân Mộc (tức Ba Hoàng), cán bộ hưu trí thôn Trà Khê, xã Tân Lập, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình- nguyên phụ trách tác chiến, sĩ quan đặc công Trung đoàn 302, Quân khu 7).