Ngày 19-8-1945, khởi nghĩa nổ ra ở Hà Nội. Nhà sư Lã Thanh Vị lúc đó đang chuyên tu Phật pháp ở chùa Ngũ Xã (Hà Nội). Vốn đã mong ước đi theo Việt Minh từ trước, nay cơ hội đến, ông liền vận động 9 vị sư cùng với mình giương cờ cách mạng đi theo một cánh quân tiến chiếm phủ Khâm sai; tiếp đó hoạt động dưới quyền chỉ huy của Việt Minh. Từ ấy bắt đầu cho cuộc đời cách mạng sôi nổi của Lã Thanh Vị với chiến tích đầu tiên là tham gia vận động thành công 28 vị sư ở chùa Cổ Lễ, Nam Định (trong đó có sư Đinh Thế Hinh, sau là đại tá quân đội) cùng với mình cởi áo cà sa, đi theo Việt Minh... để rồi sau đó được tổ chức tin tưởng giao nhiều trọng trách. Khi bị giặc bắt giam, đánh đập, ông mưu trí, dũng cảm vượt ngục trở về đội ngũ, tiếp tục công tác với phát ngôn mà đến nay, nhiều đồng chí của ông cùng thời ấy ở Nam Định vẫn nhớ: “Đi theo cách mạng tức là dám dấn thân vào chỗ chết để mang lại lẽ sống chân chính cho con người”...

leftcenterrightdel
Cụ Lã Thanh Vị (thứ hai, từ phải sang) kể chuyện hoạt động cách mạng cho lớp con cháu. 

Đầu năm 1954, trong chuyến công tác địch vận ở Đường 10, đoạn qua địa phận Ninh Bình, Lã Thanh Vị bị địch truy kích. “Một viên đạn đi rất “khéo”, xuyên qua cổ tôi mà không gây nguy hiểm đến tính mạng! Và chính sự cố này lại dẫn đến cuộc đấu trí lý thú giữa một cựu nhà sư Việt Nam với viên sĩ quan Pháp”-cụ Vị tâm đắc kể tiếp. “Khi ông Đinh Thế Hinh cùng các đảng viên hoạt động dưới mác nhà sư ở chùa Cả biết tin tôi bị thương và bị quân Pháp tống giam ở nhà tù Máy Chai (Nam Định) liền mở cuộc vận động công nhận tôi đang là nhà sư; trên cơ sở đó tố cáo quân Pháp bắt bớ người tu hành vô tội.

Sự việc buộc nhà cầm quyền Pháp phải giải quyết. Viên sĩ quan Pháp hỏi cung tôi rất thạo tiếng Việt. Hắn ngồi trên chiếc ghế bành, bắt tôi ngồi dưới nền xi măng. Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi để áp đảo tinh thần, giọng thách thức:

- Ông bảo ông là sư! Vậy tôi hỏi ông vài điều về nhà Phật. Nếu ông nói được, tôi sẽ công nhận ông là sư và trả tự do cho ông. Ngược lại, ông phải chịu hình phạt.

Tôi liền hỏi lại hắn:

- Ông có biết về Phật pháp không mà ông lại hỏi tôi về chuyện nhà Phật?

- Ồ! Có chứ!

- Vậy, nếu ông muốn nghe tôi thuyết pháp nhà Phật thì ông phải ngồi dưới. Tôi là người thuyết giảng, phải ngồi ở ghế cao hơn ông.

- Ồ! Nhưng tôi là chính quyền!

 - Phật pháp quy định, bất cứ là ai, khi nghe nhà sư thuyết pháp vẫn phải theo nguyên tắc về vị trí ngồi như thế!

Viên quan Tây nhíu bộ lông mày màu vàng hung, đăm chiêu giây lát, hắn nói:

- Nhưng ông đang bị chính quyền bắt tù. Ông phải phục tùng chính quyền.

- Nhưng tôi là nhà sư. Mà ông lại là người nghe tôi nói về đạo Phật.

Giằng co mãi, rốt cuộc, hai bên ngồi ngang nhau. Coi như mình đã thắng hắn 1-0, tôi tiếp tục:

- Ông muốn nghe về đạo Phật. Vậy, ông nghe về “sự” hay về “lý”?

- Tôi nghe cả về “sự”, cả về “lý”!

- Vậy, tôi nói về “sự” trước. Ông có biết Đức Phật Thích Ca quê ở đâu, do ai sinh ra, vợ con thế nào không?

 - Tôi cũng chỉ biết có ông Thích Ca thôi! Ông nói tiếp đi.

 - Thích Ca là Thái tử của Tịnh Phạn Vương và Hoàng hậu Maya. Sinh vào ngày rằm tháng 4 năm 624 trước Công nguyên, tại vườn Lâm Tỳ Ni thuộc vùng biên giới giữa Nepan và Ấn Độ...

 Cứ thế, tôi nói cho hắn biết về cuộc đời của Thích Ca Mâu Ni và tư tưởng cứu thế... Viên quan Tây chăm chú nghe. Đến phần tôi nói về “lý” nhà Phật thì hắn rất mê. Tôi bắt đầu chinh phục được viên quan Tây qua lời giải thích cặn kẽ lý luận Giác, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Qua đó, làm cho hắn hiểu rằng, khi mình đã học và hiểu đời là bể khổ thì mình tìm phương pháp cứu chúng sinh, đưa chúng sinh đến bình đẳng, bác ái... Viên quan Tây nghe tôi nói, chắc hẳn đã liên tưởng đến sự việc cách mạng Pháp 1789 nêu khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” liền đứng lên, với phong cách rất lịch thiệp:

-  Được rồi! Tôi thừa nhận ông là nhà sư. Ông không phải là Việt Minh. Tôi sẽ cho người đưa ông về!

Thoát khỏi nhà tù, đảng viên Lã Thanh Vị, với những thử thách kinh qua và tinh thần cách mạng tiến công, đã được Đảng tin tưởng, phân công các nhiệm vụ mới. Nhiệm vụ nào ông cũng làm tròn, góp phần xây dựng quê hương Nam Định đi lên cùng đất nước.

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG