Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Võ Thị Tâm được cấp trên giao nhiệm vụ phối hợp với các lực lượng thực hiện nhiệm vụ trinh sát cho Phân khu 2, đảm nhiệm dẫn đường cho Bộ tư lệnh Tiền phương Phân khu 2 chỉ đạo tác chiến tại Sài Gòn.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giai đoạn 1 Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đến đầu tháng 6-1968, trong một lần đột nhập nội đô Sài Gòn, Võ Thị Tâm cùng các cán bộ chỉ huy Bộ tư lệnh Tiền phương Phân khu 2 bị địch truy lùng gắt gao nên đã trốn trong một khu nhà ở đường Trang Tử (phường 14, quận 5, TP Hồ Chí Minh ngày nay).

leftcenterrightdel
Bà Võ Thị Tâm (thứ hai, bên phải) gặp gỡ đồng đội cũ và sĩ quan trẻ.

Bà Tâm nhớ lại: “Từ trong nhà quan sát qua khe tường nứt, tôi thấy trên đường phố có nhiều xe tăng và rất đông binh lính tuần tra, sục sạo. Bất chợt, một tên chỉ huy địch ra lệnh: “Dỡ ngói các ngôi nhà”. Quân lính lập tức trèo lên các nóc nhà dỡ ngói nhìn xuống. Chúng tôi nép vào các góc khuất nên chúng không phát hiện ra. Khoảng một giờ sau, máy bay trực thăng địch ập đến quần thảo bắn rốc két, ném xăng, lửa bùng cháy dữ dội cả khu phố. Chúng tôi tổ chức đục tường thủng xuyên từ nhà này sang nhà khác làm đường rút quân. Chiều tối, cơ động đến một căn nhà gần ngã tư đường Phùng Hưng, Nguyễn Trãi, tôi gặp 4 thương binh Phân khu 2. Đúng lúc ấy, xe tăng địch hướng từ đường Hồng Bàng vừa chạy vừa bắn vào hai bên đường. Tôi vội dìu các thương binh vào trong nhà rồi lấy 2 quả thủ pháo phục đánh đoàn xe tăng 4 chiếc. Tôi dựa lưng vào cánh cửa, ló đầu ra ngoài quan sát, đợi xe tăng đến đúng tầm liền nhanh chóng ném thủ pháo vào đầu xe, nhưng thủ pháo không nổ, chiếc xe ấy vượt lên phía trước. Tôi tiếp tục phục chiếc thứ hai. Lần này thì thủ pháo nổ. Một cột khói phụt lên. Chiếc xe khựng lại. Bị phục kích bất ngờ, địch điều máy bay trực thăng tới ném bom, bắn rốc két khiến ngôi nhà tôi ẩn nấp đổ sập. Tôi bị chấn thương lịm đi.

Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang nằm giữa đống đổ nát, bị gạch ngói đè lên. Tôi cố hết sức rút được cánh tay phải lên và gỡ gạch, ngói đè lên người. Sờ tay lên mắt trái, tôi thấy đau nhức, còn mắt phải sưng to. Gần đó có một đám cháy đang lan về hướng tôi, nóng bỏng, khét lẹt. Tôi cố nhích dần, thoát ra khỏi đống đổ nát, hai đầu gối bị hai mảnh đạn găm vào rỉ máu, đau nhức. Tôi  giật hai mảnh đạn ra khỏi gối, nghiến răng chịu đau, rồi cố hết sức bò đi theo những lỗ thủng thông từ nhà này sang nhà khác để tìm đồng đội. Đến chiều hôm sau, tôi đã gặp được các cán bộ chỉ huy Bộ tư lệnh Tiền phương Phân khu 2. Lúc này, đơn vị phần lớn đã bị thương. Mọi người tỏ rõ bản lĩnh quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Tôi và 11 đồng đội tiếp tục đục tường về đến căn nhà số 128, đường Ngô Nhân Tịnh. Chúng tôi vừa dìu nhau vừa động viên chiến đấu quyết tử với địch. Mỗi người tự chuẩn bị súng, đạn, công sự chiến đấu. Chú Hai Hoàng, Tư lệnh Bộ tư lệnh Tiền phương Phân khu 2 nói: Trước khi hy sinh, chúng ta bắt địch phải trả giá đắt. Tất cả chúng tôi đều đồng thanh hô “Quyết tử”.

Chú Hai Hoàng nhìn tôi, nói: “Trong số 12 người, chỉ có Tâm là nữ. Tâm phải ra hợp pháp, bảo tồn lực lượng cho cách mạng”. Tôi nói: “Cháu muốn ở lại chiến đấu trận quyết tử. Tình hình này cháu có ra cũng không thoát được”.

Thế nhưng tôi càng năn nỉ, chú Hai Hoàng càng kiên quyết. Chú đứng bật dậy nghiêm giọng nói: “Tôi thay mặt chỉ huy ra lệnh cho đồng chí Tâm thi hành nhiệm vụ”.

Không còn cách nào khác, tôi mếu máo đứng dậy đáp: “Rõ”. Chú Hai Hoàng ghé tai tôi nói: “Vĩnh biệt! Vĩnh biệt Tâm nhé!”. Tất cả chúng tôi đều bật khóc. Mọi người giúp tôi hóa trang thành phụ nữ Sài Gòn và động viên tôi can đảm lên. Mờ sáng, tôi xách chiếc giỏ mà các chú, các anh chuẩn bị, gồm: Một khẩu súng ngắn, một bộ đồ cũ, một ít tiền và chiếc lược nhỏ. Chân còn đau, nhưng tôi vẫn cố bước đi bình thản. Nhìn thấy tôi, một tên cảnh sát hỏi: “Em đi đâu?”. Tôi bình tĩnh trả lời, nhà tôi bị sập, tôi bị thương nên phải đến bệnh viện.

Tên cảnh sát nhìn tôi, gằn giọng: “Cô không phải Việt Cộng đó chứ? Đưa giỏ coi”.

Nó lấy tay gạt chiếc khăn phủ trên giỏ, nhìn thấy xấp tiền, nó hỏi: “Nhiều tiền vậy, cất đi kẻo mất” rồi nói tiếp: “Đi đi!”. Khi về đến vùng căn cứ Phân khu 2, tôi kịp báo cáo tình hình và giao lại vũ khí cùng các kỷ vật cho Bộ tư lệnh Tiền phương Phân khu 2. Ngày 17-6-1968, 11 đồng đội của tôi đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu quyết tử với kẻ thù ngay giữa lòng Sài Gòn. Các chú, các anh đã hy sinh cho tôi được sống!

Tháng 3-1969, Võ Thị Tâm tiếp tục được cấp trên điều động trở lại Sài Gòn hoạt động chiến đấu trong đội hình Phân khu 2 và bị địch bắt tra tấn dã man, đày đi nhiều nhà tù ở Thủ Đức, Chí Hòa, Côn Đảo... Tháng 4-1975, bà được trả tự do và tiếp tục hoạt động, chiến đấu đến ngày giải phóng miền Nam...

Bài và ảnh: NGUYỄN DUY HIỂN