Đặc biệt, những kỷ niệm khi còn công tác vẫn khắc sâu trong tâm trí ông. Trong đó, đáng chú ý là những diễn biến tại Hội nghị quân sự Trung Giã (Hội nghị Trung Giã)-cuộc gặp tại chỗ giữa Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ Tổng chỉ huy lực lượng Liên hiệp Pháp. Khai mạc trong khi đang diễn ra Hội nghị Geneve và hoạt động trong 23 ngày, song Hội nghị Trung Giã có tầm quan trọng lớn bởi nó phải giải quyết vấn đề ngừng bắn của cuộc chiến tranh.

Khi mất Điện Biên Phủ, Pháp lo cho số phận 1.000 thương binh bị bắt. Đến Geneve, Ngoại trưởng Georges Bidault trước hết nêu vấn đề chuyển thương binh của Pháp ra khỏi Điện Biên Phủ với Molotov, trưởng đoàn đại biểu Liên Xô, nhưng Molotov nói vấn đề đó thuộc thẩm quyền của Việt Nam. Đến ngày 10-5-1954, Trưởng đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng công bố quyết định của Hà Nội cho phép di chuyển thương binh của Pháp ra khỏi Điện Biên Phủ, do đó từ ngày 13 đến 28-5-1954, Pháp đã chuyển được 858 thương binh về Hà Nội.

leftcenterrightdel
Hai đoàn đại biểu tại Hội nghị Trung Giã.  Ảnh: Tạp chí Life.

Ngày 2-6, tướng Navarre, tổng chỉ huy quân Liên hiệp Pháp ở Đông Dương, gửi điện cho Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam báo tin phía Pháp quyết định thả 575 thương binh, bệnh binh Việt Nam tại hai nơi, ngoài Bắc ở Dĩnh Cầu hoặc Xuân Mai, trong miền Trung tại Quảng Khê hoặc Trị Yên. Ý đồ của Navarre là thả một số tù binh của ta, sau khi ta cho di chuyển gần 1.000 thương binh Liên hiệp Pháp khỏi Điện Biên Phủ, nhằm tranh thủ dư luận, đồng thời thăm dò ta có tán thành cuộc gặp tại chỗ của hai bộ tổng tư lệnh hay không.

Ngày 7-6, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trả lời đồng ý nhận thương binh ở Dĩnh Cầu và Trị Yên, nhưng đề nghị đại diện hai bên gặp nhau trước để bàn cụ thể việc trao trả và tiếp nhận. Do đó, Đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam do Thiếu tá Nguyễn Văn Lê (chính là tôi-Trung tá Lưu Văn Lợi) làm trưởng đoàn gặp Đoàn đại biểu Liên hiệp Pháp do Thiếu tá James làm trưởng đoàn tại Dĩnh Cầu ở miền Bắc để bàn cụ thể vấn đề trao trả và tiếp nhận thương binh, bệnh binh. Tại cuộc gặp này, theo đề nghị của ta, thỏa thuận trả thương binh tại Cầu Giỏ ở phía bắc Dĩnh Cầu được thông qua.

Trong hai ngày 16 và 17-6-1954, ta tiếp nhận đủ số thương binh, bệnh binh. Sau khi hoàn thành việc tiếp nhận, tôi trao cho Thiếu tá James thông điệp của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam gửi Bộ Tổng chỉ huy Liên hiệp Pháp đề nghị hai bộ tổng tư lệnh cử đại diện gặp nhau tại chỗ để thảo luận tất cả các vấn đề do Hội nghị Geneve đề ra, kể cả vấn đề gửi thư, thuốc men cho tù binh, trao đổi các tù binh bị thương và bị ốm. Nếu phía Pháp đồng ý với đề nghị này thì hai bên cử sĩ quan liên lạc gặp nhau vào ngày 19-6-1954 tại xã Ninh Liệt, thuộc huyện Đa Phúc, tỉnh Phúc Yên (nay thuộc tỉnh Thái Nguyên) và thi hành các biện pháp ngừng bắn để bảo đảm an toàn cho cuộc gặp.

Ngay ngày hôm sau, Bộ Tổng chỉ huy Liên hiệp Pháp trả lời hoàn toàn chấp nhận đề nghị của phía Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc gặp tại Ninh Liệt diễn ra giữa Trung tá Lê Minh (tức Trung tá Lê Minh Nghĩa) và Thiếu tá Nguyễn Văn Lê với Thiếu tá Jacquin, sĩ quan liên lạc của Liên hiệp Pháp. Ta đề nghị lấy xã Trung Giã, gần xã Ninh Liệt, cũng nằm trên con đường Hà Nội-Thái Nguyên làm địa điểm gặp và bàn các vấn đề liên quan. Hai bộ tổng tư lệnh đều chấp nhận những đề nghị của các sĩ quan liên lạc và trao đổi danh sách đoàn viên. Hội nghị lấy tên là Hội nghị quân sự Trung Giã.

Hội nghị Trung Giã khai mạc ngày 4-7-1954. Đoàn đại biểu Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam do Thiếu tướng Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn, gồm đồng chí Song Hào, Lê Quang Đạo, Trung tá Nguyễn Văn Long, Trung tá Lê Minh, Thiếu tá Nguyễn Văn Lê. Đoàn đại biểu các lực lượng Pháp do Đại tá Lennuyeux làm trưởng đoàn.

Trong các bài diễn văn mở đầu, Thiếu tướng Văn Tiến Dũng và Đại tá Lennuyeux đều bày tỏ mong muốn chiến tranh chấm dứt và hợp tác chân thành với nhau để hội nghị đi đến kết quả. Mục đích của hội nghị là bàn vấn đề thực hiện ngừng bắn, nhưng đoàn Pháp đề nghị trước hết bàn vấn đề tù binh vì đó là vấn đề nhân đạo. Chính sách đối với tù binh bao gồm nhiều vấn đề cụ thể, đòi hỏi phải xem xét chi tiết, do đó mãi đến ngày 10-7, hai đoàn mới thỏa thuận xong các vấn đề và ký được biên bản.

Vấn đề ngừng bắn thật phức tạp và có lẽ có những đặc điểm riêng không có trong các cuộc ngừng bắn khác. Bởi đây là cuộc đối đầu giữa đội quân chính quy Pháp với cuộc chiến tranh nhân dân có mặt khắp nơi, kể cả trong khu vực mà người Pháp tưởng như kiểm soát được, và cũng là cuộc ngừng bắn của một cuộc chiến tranh không trận tuyến. Lực lượng của hai bên đan xen với nhau đến mức các nhà quân sự Pháp phải đặt ra một từ mới để gọi hiện tượng này là “Imbrication” (lồng vào nhau như các viên gạch của một bức tường), còn ta thì gọi đó là thế “cài răng lược”. Ngoài chiến trường Việt Nam, tại các chiến trường Lào, Campuchia cũng có Quân tình nguyện Việt Nam. Trong tình hình đó, muốn thực hiện được ngừng bắn ở Việt Nam cũng như ở Lào, Campuchia đúng thời hạn, cần truyền đạt kịp thời lệnh ngừng bắn đến các chiến binh chính quy, du kích ở đồng bằng cũng như ở rừng núi, đô thị và nông thôn. Đó là việc làm cần có sự phối hợp của các lực lượng vũ trang hai bên. Phía Việt Nam phải dùng máy bay của không quân Liên hiệp Pháp để rải các bản in hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhật lệnh của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam tại các chiến trường xa. Cùng với các lệnh ngừng bắn còn phải phổ biến vấn đề tập kết quân và vấn đề chuyển giao khu vực. Tôi nhớ rất rõ, các cuộc thảo luận phải trải qua nhiều buổi làm việc. Trong đó, hai đoàn đại biểu đã thống nhất hai vấn đề lớn của giải pháp ngừng bắn cần giải quyết trước mắt, là: Cải thiện đời sống của tù binh trong khi chờ ngày được trao trả và gỡ thế “cài răng lược”.

Ngày 20-7-1954, Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết tại Geneve, quy định ngừng bắn ở Bắc Bộ ngày 27-7-1954, ở Trung Bộ ngày 1-8-1954, ở Nam Bộ ngày 11-8-1954, ở Lào ngày 6-8-1954, ở Campuchia ngày 7-8-1954. Hội nghị Trung Giã bế mạc ngày 27-7-1954, đúng ngày ngừng bắn ở Bắc Bộ. Hai đoàn đại biểu thông qua một thông cáo chung nói lên sự hài lòng về kết quả của hội nghị.

Sau này, có người coi Hội nghị Trung Giã quan trọng như Hội nghị Geneve, có người lại coi đó là một hội nghị không quan trọng. Đánh giá này đều không đúng. Hội nghị Geneve đã bàn và thỏa thuận xong giải pháp quân sự và chính trị cho chiến tranh Đông Dương. Với công tác chuẩn bị cho ngừng bắn, Hội nghị Trung Giã có ý nghĩa và tác dụng riêng của nó. Ngừng bắn được thực hiện đúng thời hạn như Hiệp định Geneve quy định là nhờ Hội nghị Trung Giã đã chuẩn bị tốt các điều kiện để ngừng bắn kịp thời và để ủy ban liên hợp giải quyết tốt các vấn đề khác của Hiệp định Geneve.

LÊ TUẤN TRƯỜNG - ĐẶNG CÔNG VŨ (Theo lời kể của cố Đại tá Lưu Văn Lợi, nguyên trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng ban Biên giới Chính phủ, thành viên Đoàn Việt Nam tại Hội nghị quân sự Trung Giã)