Ông là tấm gương dũng cảm, mưu trí trong chiến đấu, đi đầu trong phong trào tình nghĩa, hoạt động từ thiện ở địa phương. Hơn 10 năm qua, ông đã vận động các nhà hảo tâm xây dựng được hơn 100 căn nhà tình nghĩa tặng đồng đội và người có công.

KÝ ỨC VƯỢT BIỂN... 

Ông Nguyễn Văn Đức sinh năm 1941, là con trai Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Hai, quê ở xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Bố ông là Nguyễn Thanh Tấn, cán bộ Huyện ủy Thạnh Phú, bị địch bắt tra tấn dã man và anh dũng hy sinh năm 1958. Căm thù giặc sâu sắc, mong muốn trả thù cho cha, tháng 3-1960, Nguyễn Văn Đức tình nguyện nhập ngũ và được chọn là một trong số 6 người của đội tàu ở Bến Tre thực hiện nhiệm vụ đặc biệt vượt biển từ miền Nam ra miền Bắc, trinh sát mở tuyến vận chuyển vũ khí-con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển. Dựa vào cán bộ cách mạng cốt cán, nhân dân, anh Đặng Bá Tiên (thuyền trưởng) mua được chiếc thuyền đánh cá của ngư dân, có tải trọng hơn 1 tấn đem về tỉnh Bến Tre, nhưng máy, buồm, các thiết bị trên tàu đều chưa có. Bằng nhiều biện pháp ngụy trang, qua mắt địch, ông Đức và đồng đội phải khéo léo nhờ nhiều người mua từng chi tiết máy, buồm, đánh gỉ sét, lắp ráp, chuẩn bị dầu, lương thực, thực phẩm cho chuyến đi. Khó nhất là mua dầu lửa. Nguyễn Văn Đức phải cùng đồng đội cải trang làm ngư dân, thợ máy… mua dần dần, mỗi lần chừng 5 lít.

leftcenterrightdel
Ông Nguyễn Văn Đức (giữa) trò chuyện với bà con khu phố.

Sau 3 tháng, ông Đức và đồng đội đã lắp đặt hoàn thiện máy tàu, làm buồm, chuẩn bị được 200 lít dầu, lương thực, thực phẩm dự trữ và một tấm bản đồ. Ngày 1-6-1961, đúng ngày Tết Thiếu nhi, binh lính ngụy trốn về nhà chở vợ con đi chơi. Lợi dụng địch canh phòng lơi lỏng, tại bến Thạnh Hải (huyện Thạnh Phú), con tàu chở ông Đức và đồng đội chính thức rời bến. Ông Đức nhớ lại: “Chỉ với một tấm bản đồ cũ, chúng tôi phải dùng chiếc đũa để đo và ước lượng bản đồ với thực địa, xác định hải trình. Tôi quy ước, mỗi khúc đũa tương đương 60 hải lý. Đêm mịt mù, tàu càng ra khơi xa, sóng biển càng to. Gió Tây Nam thổi ràn rạt. Mặt biển tím sẫm. Ban ngày, chúng tôi dựa vào mặt trời và những ngọn núi mờ mờ ven biển để định hướng, còn ban đêm dựa vào sao Bắc Đẩu. Nhiều ngày đêm lênh đênh trên biển vất vả mệt nhọc, nhưng chúng tôi ai cũng vui vì vinh dự được thực hiện nhiệm vụ trên chuyến tàu đặc biệt. Có ngày say sóng, bụng đói, chúng tôi vẫn tập trung cao độ quan sát kỹ các chi tiết địa hình, tình hình địch, sẵn sàng chiến đấu và điều khiển tàu lợi dụng gió Tây Nam đi đúng hướng, tiết kiệm nhiên liệu. Đến ngày thứ 6, tàu đến vùng biển Đà Nẵng, trên tàu không còn nước ngọt. Để tránh sự theo dõi, lùng sục của địch, chúng tôi thả lưới đánh cá, rồi từ từ tiếp cận, làm quen với các tàu ngư dân để xin nước. Đến 4 giờ sáng ngày thứ 9, tàu đến vùng biển huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Chúng tôi ai cũng háo hức vì được đặt chân lên hậu phương miền Bắc tự do. Xúc động hơn, sau ít ngày, đoàn được gặp Bác Hồ. Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe từng người và khen ngợi chúng tôi dũng cảm, mưu trí, quyết tâm vượt biển từ miền Nam ra miền Bắc, khẳng định ý chí một lòng một dạ của đồng bào miền Nam quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Rồi Bác phát kẹo cho từng người. Cuộc gặp mặt ngắn ngủi, chúng tôi ai cũng xúc động và muốn nhìn Bác thật lâu để lưu giữ hình ảnh Bác trong tim. Chúng tôi thầm hứa với Bác sẽ đoàn kết chiến đấu anh dũng, quyết tâm chiến thắng, dù phải hy sinh”…

Những năm thực hiện các chuyến tàu vận chuyển vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam, ông Đức có nhiều kỷ niệm sâu sắc. Một trong những kỷ niệm đó là chuyến vận chuyển vũ khí phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Sau đợt đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, vũ khí bảo đảm cho quân, dân Nam Bộ chiến đấu rất thiếu thốn. Có đơn vị khi gặp địch không còn đạn để chiến đấu nên chịu nhiều tổn thất. Ngày 28-2-1968, con tàu số hiệu 43 rời bến, ra Bắc vận chuyển gần 50 tấn vũ khí vào Nam. Nguyễn Văn Đức là Thuyền phó tàu 43. Sau 3 ngày vật lộn với sóng gió, cán bộ, thuyền viên ai cũng phấn khởi, tin tưởng sẽ chở vũ khí kịp thời cho quân, dân miền Nam. Đến khoảng 3 giờ sáng ngày thứ 5, cách đảo Lý Sơn khoảng 20 hải lý, tàu 43 bị địch phát hiện. Ông Đức kể: “Lúc đó, địch phát tín hiệu yêu cầu tàu dừng lại kiểm tra, đồng thời bắn uy hiếp. Chúng tôi nhìn rõ xung quanh có 7 chiếc tàu địch bao vây vừa nổ súng truy đuổi vừa phát loa kêu gọi đầu hàng. Trên trời, hai chiếc máy bay địch quần thảo bắn rốc-két, thả pháo sáng rực cả vùng biển. Chúng tôi vừa nổ súng, vừa cho tàu tăng tốc hướng vào bờ biển tỉnh Quảng Ngãi. Chúng tôi bắn cháy tại chỗ 1 máy bay trực thăng, bắn chìm 1 tàu địch. Bất ngờ, đồng chí Vũ Xuân Duệ (quê Thái Bình), lái tàu, bị trúng đạn địch. Duệ gọi tôi: “Anh Đức ơi, em bị thương!” rồi ngã quỵ xuống khoang lái. Tôi lao tới đỡ Duệ. Duệ chỉ kịp mấp máy rồi lịm đi. Tôi thương Duệ vô cùng. Hôm nhận nhiệm vụ, Duệ mới cưới vợ được 3 ngày. Một tay ôm Duệ, một tay tôi lái tàu. Được một đoạn, tôi thấy đầu gối đau nhức. Sờ tay xuống thấy máu ra nhiều, lúc đó tôi mới biết mình bị trúng đạn. Tôi cố hết sức vừa cho tàu tăng tốc vừa bắn trả địch. Tàu có 17 người, hy sinh 3 đồng chí, chỉ còn 14 đồng chí thì 12 người đã bị thương. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn kiên cường chiến đấu. Địch bắn xối xả, tàu chao đảo, mạn tàu thủng lỗ chỗ, mùi khét lẹt, khói xám xịt bốc lên. Đến 5 giờ sáng, tàu chạy vào gần bờ biển huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, chúng tôi ôm phao nhảy xuống biển bơi, dìu nhau vào bờ. Chúng tôi đã được du kích, nhân dân địa phương cưu mang đùm bọc. Nhờ vậy, tôi còn sống, tiếp tục chiến đấu đến ngày giải phóng miền Nam...”.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông Đức tham gia tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa. Năm 1984, ông về công tác tại quận 7 (TP Hồ Chí Minh) và nghỉ hưu năm 1996.

HƠN 100 CĂN NHÀ TRI ÂN ĐỒNG ĐỘI, NGƯỜI CÓ CÔNG

Sau nhiều lần hẹn, hôm chúng tôi đến thăm ông Đức tại căn hộ chung cư nhỏ thuộc phường 12, quận 5, TP Hồ Chí Minh, đúng lúc ông vừa từ tỉnh Bến Tre về sau chuyến đi vận động các nhà hảo tâm chăm lo Tết cho đồng đội, hộ nghèo. Mặc dù đã 77 tuổi nhưng ông vẫn khỏe, đôi mắt sáng, trí tuệ minh mẫn. Ông ngồi trầm ngâm, đôi mắt ưu tư khi kể về anh Duệ. Thời gian qua, ông đã nhiều lần về thăm quê anh Duệ. Nghĩa tình với đồng đội, năm nào Tết đến, ông cũng trích một phần lương kết hợp vận động các nhà hảo tâm để tặng quà tri ân đồng đội. Món quà nhỏ, nhưng ai cũng ấm lòng. Ông nói, sau gần một tháng vận động, đến nay đã có hơn 500 triệu đồng chăm lo Tết cho đồng đội nghèo, gia đình chính sách. “Mình sống đến hôm nay cũng là nhờ đồng đội, nhân dân đùm bọc. Do vậy, còn sống ngày nào, còn sức lực, tôi còn làm việc mong góp một phần nhỏ bé tri ân đồng đội, nhân dân”-ông tâm sự.

Chúng tôi hỏi, bằng cách nào ông có thể vận động được số tiền lớn như vậy? Ông nói: “Chả có bí quyết nào cả. Tôi chỉ là người vận động. Tôi không cầm tiền. Tôi giới thiệu địa chỉ, hoàn cảnh đối tượng, các nhà hảo tâm, doanh nghiệp trực tiếp đến tặng quà”. Bằng cách làm này, trên cương vị Trưởng ban liên lạc truyền thống Đoàn tàu Không số tại TP Hồ Chí Minh, từ năm 2007 đến nay, ông Đức đã vận động các nhà hảo tâm xây dựng được hơn 100 căn nhà tình nghĩa tặng đồng đội nghèo, gia đình chính sách ở các tỉnh, thành phố phía Nam.

Bài và ảnh: NGUYỄN DUY HIỂN