Chiến sĩ Lê Văn Phóng được huấn luyện tân binh và chuyên ngành pháo phòng không năm 1969. Đầu năm 1970, Lê Văn Phóng cùng đồng đội hành quân vào chiến trường và được biên chế về Tiểu đoàn cao xạ 16, Trung đoàn 45 thuộc Đoàn 559 với nhiệm vụ bảo vệ các tuyến đường chiến lược Trường Sơn để vận chuyển, chi viện hàng, vũ khí, trang bị cho các mặt trận.

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Lê Văn Phóng.

Đầu năm 1971, Mỹ, ngụy mở chiến dịch “Lam Sơn 719” đánh vào tuyến đường chiến lược, nhằm tiêu diệt “dạ dày” của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam xung quanh đường 9 từ Đông Hà, Lao Bảo (Quảng Trị) sang Sê Pôn (Lào). Vào chiến dịch không lâu, với ưu thế về phương tiện, vũ khí, địch tổ chức lực lượng cơ động dọc đường 9, đường 16A và đổ bộ bằng máy bay lên thẳng, đánh chiếm Bản Đông (khu vực cách đường biên giới Việt Nam-Lào 20km) cùng một số điểm cao xung quanh (660, 723, 748), làm bàn đạp đánh chiếm Sê Pôn. Nhiệm vụ cụ thể của tiểu đội ông Phóng là tổ chức đánh hất các loại máy bay trinh sát, trực thăng vũ trang, không cho các loại máy bay khác ném bom vào trận địa và nơi đội hình các đơn vị chủ lực của ta trú quân. Thực hiện nhiệm vụ này, tiểu đội của ông Phóng mang súng máy phòng không 12,7mm lên tận đỉnh điểm cao 513 (núi Khu Sun, cao gần 1.000m so với mực nước biển và cách Bản Đông khoảng 1km) và lập trận địa, hầm trú ẩn trong vài ngày mới xong. Vừa hoàn thành công việc thì Tiểu đội trưởng Nhường (quê Hà Bắc) và hai chiến sĩ nữa bị sốt rét, nằm bẹp trong hầm kèo. Ông Phóng được ủy quyền chỉ huy trực chiến đấu. Thấy Tiểu đội trưởng Nhường sốt cao, liên tục mê sảng, tiểu đội định cáng đưa xuống núi, xin trên bổ sung quân số. Khi đưa cáng vào hầm thì Nhường tỉnh. Đoán được sự việc, anh kiên quyết không rời trận địa, rồi lại trùm chăn rên hừ hừ. Vậy nhưng khoảng 7 giờ hôm sau, khi mặt còn đỏ gay, bước đi chưa vững, chân còn run, Tiểu đội trưởng Nhường đã ra trận địa để trực chiến và nói vui, thuốc chữa sốt rét hữu hiệu nhất chính là bọn địch ở trên trời...

Thông thường, cứ 15 phút một lần, máy bay của địch ở tầm cao trút bom tọa độ xuống các khu vực chúng nghi ngờ. Bọn máy bay trinh sát vo ve, lùng sục quân ta suốt ngày đêm. Nếu phát hiện thấy, chúng sẽ bắn pháo chỉ thị mục tiêu để bọn C-130 và F-105, F-4 đến đánh phá. Trực thăng “cán gáo” chở biệt kích, thám báo sẽ đổ quân xuống phía sau đội hình bộ binh của ta.

Theo ông Phóng, muốn đánh hất được không quân địch lên cao, các chiến sĩ cao xạ phải mật phục, đón lõng ở nhiều nơi khác nhau, chờ khi máy bay địch vào tầm bắn hiệu quả thì nổ súng, hình thành “lưới lửa” để tiêu diệt, đẩy đuổi. Ngày 23-3-1971, quân ta giải phóng Bản Đông, đập tan chiến dịch “Lam Sơn 719”, tiêu diệt nhiều lực lượng quân chủ lực của ngụy. Theo thống kê, ta đã bắn rơi, phá hủy 556 máy bay (có 505 chiếc trực thăng); thu 2 chiếc trực thăng. CCB Lê Văn Phóng nhớ lại: Sau này, cấp trên thông báo với chúng tôi rằng, do địa hình hiểm trở nên địch không thể cơ động bằng đường bộ và hợp quân tại Bản Đông làm bàn đạp tấn công Sê Pôn như ý định. Lực lượng tiếp tế hậu cần, kỹ thuật đi đường bộ từ Đông Hà lên liên tục bị chặn đánh nên chúng phải sử dụng cầu hàng không để duy trì sức chiến đấu. Nhưng do ta bố trí “lưới lửa” phòng không hiệu quả nên cầu hàng không bằng chiến thuật “trực thăng vận” của địch bị phá sản. Đây là cơ hội tốt để bộ binh, pháo binh, xe tăng của ta tiêu diệt các vị trí đóng quân của địch ở Bản Đông và giành chiến thắng.

Đã hơn 47 năm sau chiến thắng Bản Đông, hình ảnh và hành động của Tiểu đội trưởng Nhường phất cờ hiệu, chỉ huy bắn máy bay địch ở đỉnh núi Khu Sun khi chân còn run vì sốt rét là kỷ niệm khó quên với CCB Lê Văn Phóng và đồng đội.

Bài và ảnh: MẠNH THẮNG