Đợt công tác mùa khô 2005-2006, đơn vị chúng tôi đang làm nhiệm vụ tại bản Phôn Thoong, huyện Xay Bua Thoong, tỉnh Khăm Muộn thì nhận được thông tin, tại bản Cút Nặm Xáy có mộ liệt sĩ Việt Nam. Đường vào bản không đi được bằng xe ô tô, phải đi bộ 40km đường rừng. Chúng tôi tới bản lúc mặt trời vừa xuống núi.

leftcenterrightdel
Đưa hài cốt các liệt sĩ Quân tình nguyện Việt Nam về nước. Ảnh: MINH TÚ 

Một hồi còi dài báo hiệu bà con tập hợp tại nhà trưởng bản. Mọi người bàn luận xôn xao về liệt sĩ Việt Nam hy sinh từ thời chống Pháp tại bản. Tôi đề nghị người dân cung cấp danh sách những người già trong bản, trong đó có hai cụ là người nơi khác đến lấy vợ và ở lại bản, còn một cụ đã bị mù hơn chục năm không ra khỏi đây. Tia hy vọng mở ra. Tôi giục bác trưởng bản kết thúc hội nghị, nói lời cảm ơn, chúc sức khỏe bà con, rồi đến ngay nhà mẹ Chăn Thìn đã ngoài 90 tuổi, mù cả hai mắt. Nghe tiếng chúng tôi, một cô gái trẻ ra mở cửa. Bước vào nhà, thấy một bà mẹ dáng hao gầy đang ngồi sưởi ấm bên bếp lửa, tôi bước đến gần chào mẹ. Không ngần ngại, mẹ đáp luôn:

- Ừ, thông cảm, mẹ không thấy đường, nghe tin hôm nay họp bản, sao các con lại đến đây?

- Chúng con họp bản xong rồi mới có việc tìm đến mẹ, nhờ mẹ giúp chúng con, trong kháng chiến chống Pháp, bản mình có bộ đội hy sinh không mẹ?

- Bộ đội Việt Nam hy sinh tại đây thì có, còn bộ đội Lào thì không có đâu.

- Mẹ ơi, chúng con là cán bộ, chiến sĩ Đội quy tập hài cốt liệt sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam chiến đấu, hy sinh tại chiến trường Lào... 

- Hay quá, các con đưa anh Nhân về đi!

- Anh Nhân nào hở mẹ?

- Anh Nhân-bộ đội Việt Nam hồi đó đi về bản này, thường ở trong nhà mẹ...

Hồi ấy, mẹ mới chừng 20 tuổi. Hôm đó, anh Nhân và hai đồng chí cán bộ nữa đang tổ chức họp dân ở nhà chùa thì du kích gác bản chạy vào báo quân Pháp đến. Anh Nhân vừa ra khỏi chùa thì bị bắn, hai đồng chí cán bộ còn lại bị địch phục kích bắn chết ở giữa ruộng. Sau đó, dân bản đưa thi hài hai anh đi chôn ở bìa rừng. Còn anh Nhân được chôn cạnh “rừng ma” của bản. Mẹ bị mù cả hai mắt đến nay hơn chục năm rồi không ra thăm anh được...

Giọng mẹ chùng xuống, khuôn mặt buồn bã đăm chiêu. Tôi khơi sáng ngọn đuốc mới thấy rõ những giọt nước mắt lăn trên gò má khô gầy của mẹ. Mẹ không lấy chồng, dân bản bảo mẹ bị “con ma Việt” hút hồn đi rồi. Nay mẹ ở với đứa cháu con của em trai để chờ ngày đi theo anh ấy thôi...

Sáng hôm sau, khi chúng tôi trở dậy đã thấy mẹ ngồi chờ sẵn ở đầu cầu thang nhà bếp với chiếc áo mới và cái váy còn nguyên nếp gấp, khăn rằn cuốn trên đầu như một người chuẩn bị đi hội. “Mẹ chuẩn bị đi đâu mà đẹp thế?”. “Bộ đồ cháu nó mua cho mẹ để mang khi chết nhưng chưa biết chết lúc nào, hôm nay đi gặp anh ấy, mẹ phải mặc áo mới không sợ anh mắng!”. Rồi mẹ cười bỏm bẻm: “Hồi đó, mẹ mang áo đứt một hột nút mà anh ấy nói mãi là ăn mặc xuềnh xoàng người ta cười cho...”.

Chúng tôi đưa võng xuống bảo mẹ ngồi võng, mẹ mắng: “Bố chúng mày, tao đã chết đâu mà chúng mày khiêng. Có người dắt là mẹ đi được. Xuống dốc chịu khó dắt mẹ, lên dốc thì mẹ bò đi”. Thế là cứ đến chỗ xuống dốc, một người đỡ mẹ phía sau, một người phía trước, đặt từng bước chân cho mẹ, còn lên dốc thì mẹ tự bò. Sau 2 giờ đi đường cũng đến khu rừng già gọi là “rừng ma”. Mẹ bảo đưa mẹ đến cây săng lẻ to nhất. Bác trưởng bản dắt tay mẹ đến một cây to. Mẹ lại hỏi: “Mặt trời mọc ở đâu?”. Chúng tôi xoay tay mẹ hướng về phía mặt trời. “Mấy giờ rồi?”. “Dạ mới 9 giờ kém ạ!”. “Bên phải, cây gõ đỏ hai chồi còn không?”. “Còn đây mẹ!”. “Cách đây khoảng mấy bước?”-mẹ hỏi như muốn kiểm tra chúng tôi. “Cách khoảng 15 bước ạ!”. “Ừ đúng rồi, còn bên trái có cây sến cách khoảng 5 đến 6 bước, thấy không?”. “Dạ có”. “Ở đâu, cầm tay mẹ chỉ xem nào?”. Tôi đưa tay mẹ chỉ về cây gõ đỏ, tay trái chỉ về cây sến. Mẹ xích qua xích lại như để xác định hướng rồi mẹ chỉ: “Đây, chỗ này, cách chỗ mẹ khoảng 5 đến 6 bước, đừng đào xa quá”.

Thế là chúng tôi kẻ phát, người đào. Mẹ ngồi lẩm bẩm như đang nói điều gì đó với người đã khuất. Một lúc sau mẹ gọi lớn: “Anh Nhân ơi, về đi anh, anh em đồng đội đến tìm anh đây! Về nơi có người thăm, kẻ viếng, đừng ở đây giữa rừng một mình, mưa gió, rét mướt lắm anh ơi...”.

“A, đây rồi!”, một chiến sĩ hét vang lên, “có một chiếc dây”, chúng tôi trào nước mắt. Chỉ có mẹ trong lòng nặng trĩu nỗi nhớ thương: “Anh Nhân ơi, anh còn nhớ không, cứ mỗi lần nhớ anh, em lại đến đây, cùng gốc cây này nhìn anh qua nấm mộ. Nay tuổi già, mắt mù, chân chậm, không đến được bên anh. May mắn có đồng đội đến tìm đưa anh về quê cha đất tổ, không còn ở đất khách quê người giữa rừng xanh núi thẳm này nữa anh ơi...”.

Phần mộ liệt sĩ đã được quy tập, chúng tôi thắp nén trầm hương kính vái đưa anh về mà lòng rưng rưng xúc động. Ở nơi này đã khắc ghi tình yêu son sắt thủy chung của một cô gái Lào với chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam. Mối tình sâu đậm ấy sẽ sống mãi trong tình Việt-Lào đời đời bền chặt.

PHAN ĐỨC QUÝ, Nguyên Đội trưởng Đội quy tập hài cốt liệt sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào, Bộ CHQS tỉnh Quảng Bình