Đã là lính Binh trạm 44 Trường Sơn thì không ai xa lạ với địa danh bản Tà Oọc. Bởi vì ở đây, tuyến B46 đi qua. Và đây cũng là nơi đóng quân của Binh trạm bộ Binh trạm 44, kho trung chuyển lớn O2, nơi đóng quân của Tiểu đoàn 56 ô tô vận tải, Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn Giao liên 17… Nghĩa là khu vực Tà Oọc trở thành con tim, khối óc, dạ dày… của toàn tuyến B46 Binh trạm 44 Trường Sơn. Tà Oọc là khu rừng nguyên sinh nằm trên biên giới Lào-Việt. Nơi đây rừng già bao phủ trải dài theo dãy Trường Sơn và thoải dần theo hướng đông về huyện Nam Giang, Quảng Nam. Đi vào muốn qua Tà Oọc phải qua ngầm Sê Ka Mán, Km58, đi khỏi Tà Oọc vào chiến trường Khu 5 phải qua đèo Km68-Km70. Đây là hai trọng điểm cực kỳ ác liệt trên tuyến ngang B46. Mỹ-ngụy tìm mọi thủ đoạn nhằm gây tắc đường ở hai trọng điểm này. Chúng đánh phá ngầm và đèo này, đường bay của lũ “giặc trời” luôn ngang trên bầu trời Tà Oọc. Vì vậy, suốt ngày bầu trời Tà Oọc không hề ngớt tiếng gầm rú của máy bay Mỹ và phải hứng chịu những loạt bom rơi “sai sót” của chúng.

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Quý (ngoài cùng, bên trái) trong ngày gặp mặt đồng đội. Ảnh: KIM TRUNG.

Những ngày tháng ấy ở khu vực Tà Oọc không ngày nào được bình yên, mùa khô cũng như mùa mưa. Kẻ địch biết rõ dưới những tán cây rừng của khu vực rộng lớn này là những đoàn quân nắm chắc tay súng ra trận. Chúng biết rõ nơi đây có hàng nghìn người đang ngày đêm đem sức trẻ cống hiến cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Địch tăng cường hoạt động thăm dò trên không và biệt kích, thám báo thâm nhập. Máy bay trinh sát cánh quạt OV-10, L19 bay dọc ngang xoi mói. Bọn RF4 chụp ảnh ngày đêm. Nghi ngờ chỗ nào là chúng chỉ điểm cho bọn F4 cắt bom. Biệt kích, thám báo được trực thăng chở, bất ngờ đổ xuống các bãi trống lùng sục thăm dò ta. Trên đường giao liên, từ Quảng Nam ra hay từ Quảng Đà ngược lên đều có những toán biệt kích lận vào giả là Quân Giải phóng để chỉ điểm đánh phá…

Tôi là trợ lý tác chiến binh trạm. 3 giờ chiều một ngày tháng 12-1970, địch cho nhiều tốp cắt bom đánh phá ngầm Sê Ka Mán và đèo Km70. Cao xạ 37mm của Tiểu đoàn 28 bắn trả mãnh liệt. Bọn F4 không dám bổ nhào xuống thấp. Vì vậy, bom tản mát lớn, nhiều trái rơi vào khu Tà Oọc. Binh trạm trưởng Vũ Xuân Phương lệnh cho ban tác chiến xem xét địch cắt bom vào khu vực Tiểu đoàn 56, tìm biện pháp khắc phục để Tiểu đoàn 56 hoạt động bình thường. Tôi được cử đi. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 56 Nguyễn Ngọc Quý dẫn tôi đi xem xét. Một loạt bom trúng nơi trú quân của tiểu đoàn. Còn một quả chưa nổ, cách chái nhà của ban chỉ huy tiểu đoàn khoảng 50m. Nhìn hút bom đen ngòm, sâu hun hút người chui lọt mà lạnh gáy. Mọi người tản đi cả, chỉ còn tôi và anh Quý xem xét hút bom. Tôi đưa ra nhận xét:

- Đây là quả bom cỡ lớn, cắm vào lòng đất một góc gần như nghiêng 45o mà lại vào đất mềm như thế này có thể nó ở rất sâu trong lòng đất.

Anh Quý tỏ rõ lo lắng. Rất may là loạt bom vừa nổ không gây khó khăn gì cho Tiểu đoàn 56. Những loạt bom rơi “sai sót” vào khu vực Tà Oọc như thế này không hiếm. Hứng chịu nhiều hơn cả là khu vực kho O2. Đây là một khu kho trung chuyển rộng lớn với nhiều mặt hàng, hằng ngày, nhiều người tới nhận hàng, gùi thồ đi các hướng. Vì vậy, công tác phòng gian bảo mật, ngụy trang phòng tránh được thực hiện rất tốt. Nhiều lần kho bị bom, song kết luận của chúng tôi là địch chỉ đánh thăm dò và cắt bom “sai sót” chứ tuyệt nhiên chưa lộ vị trí đóng quân. Khu vực Tiểu đoàn 56 cũng vậy.

Sau loạt bom vào khu trú quân của Tiểu đoàn 56, bọn trinh sát cánh quạt OV-10 vẫn bay lượn vè vè trên đầu. Nhưng mọi hoạt động ở khu vực Tà Oọc vẫn nhộn nhịp như thường. Tôi thống nhất với anh Quý: Cần kiểm tra khâu ngụy trang, không để cho chúng phát hiện từ trên cao. Cẩn thận khói lửa, nếu có khói phải tổ chức xử lý ngay. Chú ý khu bếp, trạm tiểu trú. Về quả bom chưa nổ, tôi sẽ báo cáo lại với binh trạm trưởng và đề nghị cán bộ xử lý bom, mìn bên tham mưu công binh giúp đỡ. Trước mắt cần tránh xa hút bom và không cho ô tô chạy gần nó… Anh Quý đồng ý với tôi.

Tôi vẫn theo dõi quả bom chưa nổ ấy và cũng lo lắng cho các đồng chí ở đó. Tôi giữ liên lạc thường xuyên với anh Quý. Một ngày rồi hai ngày, ba ngày… chẳng thấy nó nổ. Rồi mọi người quên nó. Mùa mưa đến. Mưa xối xả ngày đêm. Ngầm Sê Ka Mán ngập sâu, đường sá sụt lở nghiêm trọng. Hàng hóa nằm im trong kho; khẩu phần ăn bị cắt giảm; xe không có xăng để chạy. Cả binh trạm rất lo lắng. Giữa lúc khó khăn đó thì có tin vui từ Tiểu đoàn 56: Tiểu đoàn 56 cải tiến thành công xe ô tô chạy bằng than. Việc vận chuyển nội bộ được giải quyết. Tin vui dồn dập báo về: Đội tăng gia của binh trạm đã thu hoạch được lứa rau đầu tiên từ hạt giống miền Bắc gửi vào. Các đội săn bắn đã gùi thịt nai rừng về cho bếp. Các rẫy cách mạng được người dân chỉ dẫn, tuy chỉ là những củ sắn nhưng cũng đỡ đói lòng. Tinh thần no đói chia sẻ cùng nhau lan rộng trong khu Tà Oọc. Từ cơ quan binh trạm bộ đến Tiểu đoàn 56, kho O2… đều dành lương thực, thực phẩm tốt nhất cho Đội Điều trị 1 và Tiểu đoàn 17 giao liên phục vụ thương binh, bệnh binh. Mùa mưa, nước suối dâng cao, đường giao liên trơn trượt nhưng các chiến sĩ giao liên vẫn dầm mình trong mưa để khiêng cáng thương binh.

Địch vẫn tăng cường đánh phá, trinh sát thăm dò. Trọng tâm đánh phá trong mùa mưa là những khu rừng nghi ngờ ta đóng quân. Nghe tiếng RF4 bay trinh sát khí tượng khu nào là y rằng khu ấy bị cắt bom tọa độ. Nhẹ thì B-57 cắt chùm bom. Nặng thì B-52 bay 3 chiếc một cắt bom rải thảm và sau khoảng 15 phút, chúng lại vòng lại cắt bom đợt hai. Quy luật đánh phá của địch ta hiểu cả. Vì vậy, khu Tà Oọc bị cả B-57 lẫn B-52 cắt bom rải thảm nhưng ta không có thiệt hại gì đáng kể. Một buổi chiều muộn, đài quan sát báo về: Máy bay thả vật không xác định xuống khu Tà Oọc không thấy nổ. Nhận định: Có thể chúng thả “cây nhiệt đới” vào khu vực. Mệnh lệnh được phát ra: Tạm dừng mọi hoạt động khu Tà Oọc, tránh phát ra tiếng động; các đơn vị tổ chức tìm kiếm “cây nhiệt đới”. Mệnh lệnh được chấp hành: Xe Tiểu đoàn 56 không nổ máy. Các chú gà trống được đưa xuống hầm, cho vào rọ không cho gáy… Đại đội Bộ binh 293 được giao truy tìm “cây nhiệt đới”. Anh Quý lại báo về: Tiểu đoàn 56 tìm được một “cây nhiệt đới”. Tôi lại xuống gặp anh Quý. “Cây nhiệt đới” trông giống như một thân cây cụt có đường kính chừng 10cm được sơn ngụy trang mới trông giống như một gốc cây cụt. Bên trong nó là hệ thống định vị xác định tọa độ và máy thu phát tín hiệu âm thanh. Phía trên tỏa ra những nhánh chính là ăng ten thu phát. Thân “cây nhiệt đới” cắm xuống đất. Chúng tôi nhẹ nhàng tiến đến dùng dao tách lớp nhựa rồi đấu nối những nhánh ăng ten thu phát với nhau. “Cây nhiệt đới” thành vô dụng. Các đơn vị khác còn tìm thêm được hai “cây nhiệt đới” nữa và nhanh chóng vô hiệu nó. Cả khu vực Tà Oọc lại hoạt động bình thường, xe lại nổ, gà lại gáy; đêm đêm, tiếng hát của các chiến sĩ lại vang xa…

Hết mùa mưa lại đến mùa khô. Cả vùng Tà Oọc của những người lính Binh trạm 44 Trường Sơn lại nhộn nhịp, lại âm vang tiếng máy, tiếng người đưa hàng ra mặt trận. Những đoàn quân tăng cường nhập tuyến. Những binh khí kỹ thuật, những cỗ đại bác lăn bánh ra mặt trận như ngầm thông báo: Ngày toàn thắng ắt về ta. Chúng tôi vào trận mới đầy hứng khởi.

Tháng 5-1971, tôi được điều động về Ban tác chiến-Bộ tư lệnh Khu vực 471, phải xa Tà Oọc và những bạn chiến đấu cùng Binh trạm 44 Trường Sơn. Gần 50 năm mới gặp lại Thiếu tá Nguyễn Ngọc Quý, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 56 ô tô vận tải anh hùng và các bạn chiến đấu thuộc Binh trạm 44. Ai cũng muốn nói, cũng muốn kể về những năm tháng sống và chiến đấu ở Trường Sơn. Chia tay, hẹn gặp lại ngày này năm sau, anh Quý nhắc tôi: Nhớ về Ao Vua cùng anh để nối tiếp chuyện hút bom và “cây nhiệt đới” ở Tà Oọc. 

NGUYỄN KIM CHÚC