Sự kiện mới được phát lộ ngày 7-3-2017 nhờ cuộc tái ngộ của 3 cảm tử quân ngay tại ngôi nhà cấp 4 ấy của cụ Kim Lý.

Một hành động quả cảm chưa xuất hiện trên giấy trắng mực đen, chưa đăng tải trên truyền thông, vì vậy trong khi khai thác tư liệu, người viết không có điều kiện để “liệu cơm gắp mắm”, chỉ dựa vào trí nhớ đã giảm sút vì tuổi tác của các cảm tử quân từng dự lễ truy điệu sống và tấm ảnh chụp 6 cảm tử quân quanh quả bom đã được lôi lên khỏi mái đê trước khi khiêng đi tiêu hủy. Với điều kiện tư liệu như vậy, người viết không dám kỳ vọng tái hiện đầy đủ hành động quả cảm gần 50 năm trước của những dân quân chân lấm tay bùn.

Công năng chính của tuyến đê tả Lam (cư dân gọi là đê 42) là ngăn thoát lũ cho vùng dân cư phía hạ lưu dòng Lam thuộc các huyện Nam Đàn-Hưng Nguyên-TP Vinh-Nghi Lộc, nhưng trong 9 năm giáng trả cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ, hệ thống đường bộ trên đất Nghệ An ngày đêm bị máy bay, tàu chiến Mỹ oanh tạc, tuyến đê 42 đêm đêm hóa thành đường bộ, thành điểm tập kết, trung chuyển những đoàn quân, đoàn xe vào Nam.

leftcenterrightdel
Ba cảm tử quân (từ trái sang): Bà Trần Thị Xoan, bà Nguyễn Thị Kim Lý, ông Nguyễn Thạc Thư và ông Nguyễn Đình Huân, nguyên Trung đội trưởng dân quân xã Nam Quang.   Ảnh: Nguyễn Giao. 

Bảo vệ tốt tuyến đê chẳng những an toàn cho hàng vạn người dân các xã trong, ngoài đê mà còn góp phần nối liền mạch máu giao thông, hoàn thành mục tiêu chiến lược chi viện cho các chiến trường. Trong năm 1968, riêng đoạn đê qua xã Nam Quang, huyện Nam Đàn phải gồng mình chịu nhiều trận oanh tạc, khu vực đê găm đầy bom nổ chậm. Những quả nằm xa chân đê được công binh và dân quân rà phá kích nổ, những quả trên mặt đê và thân đê phải cần lực lượng cảm tử tay đào, vai khiêng ra xa chân đê 200-300m tiến hành kích nổ.

Nguyễn Thạc Thư - cảm tử đào bới bom

Ông Nguyễn Thạc Thư sinh năm 1952. Tháng 6-1968, ông tình nguyện xung phong và được lãnh đạo xã chấp nhận tham gia đào bới, khiêng gánh, hóa giải quả bom-“kẻ giết người thông minh” ra xa 300m. Ông không nhớ chính xác sự kiện diễn ra ngày nào của tháng 6-1968. Buổi lễ ra quân “chia tay” 6 cảm tử quân không hy vọng trở về. Lãnh đạo Đảng bộ, chính quyền xã có mặt đầy đủ dự lễ ra quân-truy điệu sống, một việc nhạy cảm chưa có tiền lệ trên đất Nam Quang. Ông Hồ Công Cháu-Bí thư Đảng ủy xã tuyên bố:

- Trong khi làm nhiệm vụ đào bới quả bom, nếu 6 cảm tử quân hy sinh, Nhà nước sẽ truy phong là liệt sĩ.

Các cảm tử quân nhìn nhau rưng rưng, nghẹn ngào, ai cũng tâm trạng trĩu nặng, ruột gan bốc lửa, nhưng đến phút cuối chẳng ai tỏ ra nhụt chí, chẳng ai thoái thác nhiệm vụ! Những biểu hiện trên gương mặt của 6 cảm tử quân đều được ông Trần Đình Thợng-Chủ tịch UBND xã Nam Quang lặng lẽ quan sát, cho đến lúc tiến ra hiện trường không xảy ra trục trặc, lãnh đạo xã không phải sử dụng phương án thay thế người như đã chuẩn bị.   

Ông Thư đọc cho tôi ghi họ tên 6 cảm tử quân đào bới bom, đến nay 4 người đã mất vì tuổi cao, bệnh tật, gồm: Ông Trần Đình Chắt, nguyên Xã đội trưởng; ông Tạ Quang Thìn, nguyên Bí thư Đoàn xã; ông Trần Công Phú, bà Trần Thị Chất. Hai người còn sống là ông Nguyễn Thạc Thư, bà Trần Thị Xoan, sinh năm 1950. 

Quả bom chui sâu vào khoảng giữa chiều cao thân đê, đào bới bằng tay suốt một ngày (từ 6 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút) dưới cái nóng hầm hập của gió Lào, hết xoay dọc vần ngang mới lôi được quả bom lên khỏi mái đê. Nhưng 6 cảm tử quân đã xuống sức, không khiêng nổi quả bom ra xa 300m. Lúc ấy, lãnh đạo xã phải bổ sung 5 cảm tử quân ra hiện trường cùng khiêng, gồm: Ông Trần Văn Minh (đã mất), ông Trần Như Loan (đã mất), ông Trần Văn Chiến, bà Nguyễn Thị Kim Lý, bà Nguyễn Thị Loan.

leftcenterrightdel
Đưa quả bom lên mặt đê. Ảnh: Nguyễn Văn Vượng. 

Nguyễn Thạc Thư ngày đó mới 16 tuổi vẫn tình nguyện cảm tử với suy nghĩ, nạn nhân của “kẻ giết người thông minh” không phân biệt quân hay dân, già hay trẻ, trai hay gái, tuổi tác nhiều hay ít. Về sau ông Thư mới nghĩ ra, bữa đó nếu “hắn” phát huy đủ 100% độ nhạy thì… Nguyễn Thạc Thư không có cơ hội “khai gian” sinh năm 1950 cho đủ tuổi để tháng 9-1968 lên đường nhập ngũ, vào Mặt trận B5 trực tiếp chiến đấu trong đội hình của Sư đoàn 390, Trung đoàn Bộ binh 27-Đoàn Triệu Hải. Ông đã 3 lần bị thương trên chiến trường vào các năm 1971, 1972, 1973, sau đó trở về xây dựng quê hương với thương tật mức 31%.

Nguyễn Thị Kim Lý - cảm tử khiêng bom

Ngày ấy, chị Nguyễn Thị Kim Lý có chồng là anh Nguyễn Đình Xuyến, người cùng làng. Năm 1958, anh Xuyến nhập ngũ, bấy giờ chị Lý đang bụng mang dạ chửa. Năm 1963, anh Xuyến cùng đơn vị chuẩn bị vào Nam chiến đấu. Chị Lý đưa con gái là Nguyễn Thị Thanh, lúc ấy mới 4 tuổi, vào đơn vị của chồng ở Quảng Bình để cha con gặp nhau. Chia tay chồng, chị trở về cuốc cày, nuôi con, chăm sóc bố mẹ chồng, nuôi hy vọng ngày vợ chồng đoàn tụ. Nhưng nỗi đau ập đến, trong trận chiến ngày 13-7-1966 tại đèo Đắc Dong, tỉnh Bình Định, Đại đội phó Nguyễn Đình Xuyến hy sinh. Bấy giờ mẹ chồng chị đang bị liệt nằm một chỗ, nếu để lộ hung tin anh Xuyến hy sinh, cụ càng trọng bệnh. Chị Lý đành ôm trọn nỗi đau, nuốt nước mắt vào tim, chính quyền xã làm lễ truy điệu, bạn bè cũng kín đáo đến chia buồn.

Nhưng nỗi đau nào dễ nguôi ngoai. Chị gửi con cho bố mẹ chồng rồi lao vào công việc. Chị nhận làm mọi việc của hợp tác xã, dân làng thấy chị như con thoi, vừa ở ruộng trên loáng cái đã gặp tại cánh đồng dưới. Đạn bom càng ngày càng khốc liệt, chị cùng dân quân ngày đêm đào hầm đắp lũy, đến tận hiện trường kiểm tra, đánh dấu, làm rào chắn những quả bom chưa nổ; giúp nấu cơm đón, tiễn các đơn vị bộ đội hành quân qua làng. Một ngày tháng 6-1968, tại ngôi nhà cấp 4 này, bấy giờ bé Thanh 9 tuổi đã chứng kiến mẹ Lý tình nguyện ra hiện trường làm cảm tử khiêng bom. Biết chị tình nguyện cảm tử, một người làng gặng hỏi:

- Mi gan rứa, chồng mới hy sinh, con còn nhỏ mà dám xung phong vô chỗ chết?

Dân làng lo cho chị là phải nhẽ, bởi chẳng đâu như ở nước mình quê mình, người trần mắt thịt mà khiêng gánh trên vai cái thứ sắt thép giết người hàng loạt ghê gớm ấy. Cũng như mọi người, chị biết, dấn thân vào là dễ bị thịt nát xương tan. Nhưng để “hắn” không kịp giết hàng loạt người của mình thì mình phải chủ động, sẵn sàng cảm tử để chôn “hắn” trước.

Tại cuộc tái ngộ giản dị cảm động này, nhà thơ Hoàng Thị Cẩm Thạch ứng tác đọc tặng các cảm tử quân:

Cúng mình-có ai thế không?

Trái bom chực nổ bên sông rập rình

Dân quân tuổi trẻ quên mình

Có người chồng mới hy sinh chiến trường

Có người chưa một nụ hôn

Có người vợ yếu đông con, nhà nghèo

Cảnh đời khốn khó gieo neo

Nhà nông cây lúa cánh bèo nhỏ nhoi

Tấm lòng yêu nước thương nòi

Vầng trăng sáng giữa bầu trời đầy sao

Anh Nguyễn Duy Thảo, Bí thư Đảng ủy xã Xuân Lâm tâm sự: Tuổi thiếu niên anh được bố mẹ kể về dân quân Nam Quang cảm tử đào, khiêng bom. Một bài học lớn về tinh thần yêu nước thương dân, một sự kiện người thật việc thật ở làng mà các thế hệ hậu sinh ngỡ như huyền thoại ở chốn xa xăm.

Anh E.A-ba-ki-rô-va, công dân Nga, chồng chị Nguyễn Thị Thanh, vừa bay về kịp dự cuộc gặp của mẹ vợ với các đồng đội. Anh nhờ người bạn phiên dịch sang tiếng Việt mấy lời phát biểu chân tình: “Là công dân nước Nga, tôi rất cảm động được dự lễ gặp mặt-tri ân các ông, các bà một thời cảm tử. Tuổi trẻ của các ông, các bà là tấm gương cống hiến, hy sinh vì nước, vì dân. Tôi rất biết ơn mẹ của Thanh, rất biết ơn những cựu chiến binh, những cựu dân quân Nam Quang đã chiến đấu hy sinh, góp phần bảo vệ đất nước Việt Nam, quê hương thứ hai của tôi…”.

Nguyễn Văn Vượng - cảm tử chụp ảnh

Thấy tôi “soi” bức ảnh chụp tại thời điểm quả bom đã được lôi lên khỏi triền đê, tốp cảm tử đào bới cùng tốp cảm tử vừa được bổ sung chuẩn bị khiêng quả bom đến nơi tiêu hủy, ông Hồ Công Điều (hàng xóm của cụ Kim Lý, hiện là cán bộ văn phòng UBND huyện Nam Đàn) rỉ tai:

- Hôm ấy lãnh đạo xã nhờ ông Vượng thợ ảnh ra hiện trường bấm máy, hiện ông Vượng ở phường Cửa Nam, TP Vinh.

Tìm đến ngôi nhà số 48, đường Trần Hưng Đạo, TP Vinh, anh Quang, con trai ông Vượng mang những kỷ vật của cha mình cho tôi xem: “Đây là chứng minh nhân dân, thẻ Hội viên Hội CCB Việt Nam, di ảnh của bố em, cụ mất năm 2012”. Ngày ấy, không là phóng viên chiến trường, không thuộc quân số cảm tử quân, nhưng ông Vượng được lãnh đạo xã giao việc là lập tức lao ra hiện trường. Và ông đã ghi lại bằng hình ảnh những con người yêu nước, bình dị như nhà thơ Hoàng Thị Cẩm Thạch viết: “Hồn nhiên hoa cỏ ven sông/ Hồn nhiên cái chết cho đồng lúa xanh”.

GIAO HƯỞNG