Trong tổ chức quân sự của “R” thời ấy, bộ phận trung tâm nằm ở rừng sâu kín đáo, ít người, gọn nhẹ, gồm các tướng lĩnh và bộ phận chuyên môn phục vụ. Các cơ quan: Tham mưu, chính trị, hậu cần... phần lớn phân tán ra vòng ngoài. Tôi được lệnh của Ban Tuyên huấn ra khu quay phim và nhiếp ảnh, thông báo trong 24 tiếng phải tổ chức lực lượng xuất kích gọn nhẹ. Tài liệu, máy móc còn lại thì đem chôn kín đáo. Tôi nói thêm với anh “Cố Hỉ” (Trương Thành Hỷ), trưởng bộ phận quay phim, nhiếp ảnh: “Đây là một chiến dịch quan trọng đặc biệt”. Thậm chí anh em có thể đục thủng các nồi niêu, hẹn nhau gặp mặt tại Sài Gòn mà ăn Tết!”.

Nghe thực lãng mạn cách mạng, khí thế ngất trời. Điều này không ghi trong văn bản nhưng loang ra rất nhanh chóng. Anh em văn nghệ, báo chí có thể đi theo các đơn vị làm nhiệm vụ đặc biệt. Nhà văn Nguyễn Thi xung phong đi theo một mũi nhọn của chiến dịch, sẵn sàng cầm súng chiến đấu cùng các chiến sĩ giải phóng.

leftcenterrightdel
Năm 2015, nhà báo Phú Bằng tìm gặp được ân nhân của mình là ông "Cố Hỉ" (bên phải) tại Hóc Môn khi cả hai đã ở tuổi ngoài 80. 
Tôi may mắn được đi theo cánh quân Tây Bắc Sài Gòn với nhà văn Thanh Giang... Anh Thanh Giang muốn tìm hiểu để viết về các chiến sĩ nữ biệt động Sài Gòn. Tôi theo Tiểu đoàn Quyết Thắng, chủ lực của quân khu trong dự tính tấn công vào hai căn cứ Cổ Loa (cơ quan chỉ huy Công binh Sài Gòn) và Phù Đổng (Thiết giáp Sài Gòn).

Anh Thanh Giang gắn bó với tôi trong tình bạn. Điềm đạm, khiêm tốn, thành thực. Anh đặc biệt quý trọng tài năng của Nguyễn Thi. Trong tháng Tổng tiến công đầu tiên, anh Thanh Giang luôn hỏi han các cấp chỉ huy có biết nhà văn Nguyễn Thi ở đâu, bồn chồn, thấp thỏm...

Với tôi, anh Thanh Giang và vợ của anh còn một góc bầu trời chiến tranh khác lạ.

Từ năm 1950 chống Pháp, tôi luôn luôn đi theo các đội hình sư đoàn của Việt Minh. Quân địch vũ khí đầy đủ mười phần thì Việt Minh cũng đủ năm ba phần đối chọi. Pháp có xe tăng thì Việt Minh có ĐKZ, có bom ba càng, Pháp có không quân thì Việt Minh có các lực lượng phòng không. Rả rích tôi nghe anh Thanh Giang kể chuyện đồng khởi ở Bến Tre không biết chán!

Những đêm hiếm hoi cùng nằm trong hầm tránh pháo, tôi bảo: Thanh Giang ơi, mình chỉ hiểu quân đội ra chiến trường đánh địch là quân chủ lực. Còn Bến Tre quê anh có cả một binh đoàn, các bà má tay không đánh giặc. Anh nói mình quê huyện Mỏ Cày, người yêu của mình cũng Mỏ Cày, mà Mỏ Cày là thành lũy vững chắc trong cuộc đồng khởi vang lừng của Bến Tre năm 1960 ấy... Thôi, ngủ đi, xong cuộc Tổng tấn công này, mình sẽ đưa anh về thăm vợ mình, nghe cô ấy kể chuyện các má tay không phất khăn rằn đánh lui quân địch. Và từ đấy tôi đã có ý sẽ đưa gia đình mình ở Hà Nội vào gặp những người thân thiết ở chiến trường miền Nam.

Thanh Giang giữ lời. Mình cũng y lời.

Sau năm 1975, mỗi lần vào Sài Gòn, tôi có hai “địa chỉ đỏ” phải đặt chân đầu tiên. Một là tầng bốn chung cư đầu cầu Thị Nghè, nơi mẹ tôi gặp lại cha tôi và gặp lại các con của mẹ sau ba mươi năm chia ly. Thắp một nén hương cho ơn huệ tổ tiên. Hai là tầng bốn chung cư 150 Trần Hưng Đạo, nơi có một gian nhỏ gia đình anh chị Thanh Giang. Không phải chuyện trò gì. Ngồi cạnh nhau im lặng, và trong im lặng bật ra biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Và khi chờ cơm ngồi đọc các truyện và ký của chị Đỗ Thị Quyên, vợ anh Thanh Giang, người con gái tiêu biểu của Mỏ Cày. Những chuyện đọc đến đâu lòng tôi bay đến đó, hiện nên hình.

Thời gian mấy năm đấu súng trên biên giới Tây Bắc, tôi không rời Hà Nội vào Nam. Anh chị Thanh Giang ngóng chờ. Bỗng có dịp may bám càng bạn bè vào Sài Gòn. Tôi lúi cúi leo cầu thang bốn tầng lầu, chung cư 150 Trần Hưng Đạo không có thang máy. Tối om, các bậc thang chung cư đã mòn vẹt. Tôi vừa thở, vừa gọi điện thoại: “Thanh Giang ơi, Phú Bằng đây!”. Trong nháy mắt, tình bạn đã ban cho tôi một tấm ảnh để đời. Anh Thanh Giang mừng rỡ đột ngột, chạy ào ra mút cầu thang, còn tôi không kịp chỉnh cự ly và cứ thế bấm máy. Anh Thanh Giang ôm tôi, ôm cả máy.

leftcenterrightdel
Thật tình cờ, Đỗ Quyên (tên của vợ nhà văn Thanh Giang) lại được gia đình nhà báo Phú Bằng đặt cho cô cháu gái. Hai người phụ nữ cùng tên ấy chụp ảnh lưu niệm khi cả gia đình nhà báo Phú Bằng vào TP Hồ Chí Minh dịp húy nhật nhà văn Thanh Giang. Ảnh do tác giả cung cấp     
Xin trở lại những ngày khói lửa đô thành 1968. Tôi bám Tiểu đoàn Quyết Thắng, một “lô cốt” của tiểu đoàn bộ gồm những cột gỗ, tấm gỗ làm vách, bên ngoài chất bao cát một quả tên lửa lao xuống nổ tung. Tôi nằm ngoài văng xuống mương nước, không ngóc dậy được. Anh Thanh Giang sống sót, ra dìu tôi lên bờ. Tôi nôn ọe mấy ngụm nước mương mặn và tanh. May mà có bi đông nước ngọt của anh Thanh Giang. Sài Gòn tiếp tục nổ súng ác liệt. Tiểu đoàn được bổ sung lực lượng đặc công và bộ binh, nâng cấp thành trung đoàn. Tôi đưa bài tóm tắt bản tin trận Cổ Loa cho anh Tư Nhựt, Trung đoàn phó, xem có chỗ nào sai sót. “Ừ, ừ, cũng được...”.

Giai đoạn này công sự càng sơ sài. Chỗ tôi gặp Tư Nhựt thì “lô cốt” chỉ là những thân cây chuối, gắn với nhau bằng thân tre nhọn. Cán bộ trung đoàn hầu như mới cả. Bận bịu rối rít. Thờ ơ, không cho chúng tôi thêm tin tức gì. Trận đánh vừa qua không thuận lợi. Anh Ba Z trẻ trung nhìn tôi và Thanh Giang, đầu quấn băng, tung một câu trống không: “Các nhà văn, nhà báo phải cho họ chảy máu thì mới biết thế nào là chiến tranh”. Thanh Giang bực mình: “Anh Mười (Thanh Giang gọi tôi là thứ Mười) đây là chiến sĩ Điện Biên đấy!”. Hai chúng tôi rời chỗ đó, bụng đói.

Giai đoạn thứ ba, phấn khích. Anh Năm Sài Gòn (Năm Truyện) đưa được một phần của Sư đoàn 5 vào nội đô.

Tôi và Thanh Giang khập khiễng chạy theo anh Năm, bước mạnh trên các tấm tôn nhà cháy rổn rảng. Đây là trung tâm Gò Vấp. Một số bà con miền Bắc di cư vào đây dồn chúng tôi lại chất vấn: Chúng tôi cùng đường nên phải bỏ quê hương chạy vào tận đây, sao các ông còn truy đuổi thế này. Thanh Giang bảo tôi đáp lời, khen tôi là rặt giọng Bắc Kỳ.

- Bà con ơi, chúng tôi là quân nhân cách mạng, không chấp nhận cho quân đội nước ngoài nào được đóng quân trên đất nước đau thương...

Chiến sự nội đô tiếp tục. Chúng ta không còn giữ được yếu tố “bất ngờ chiến dịch”. Anh Năm Sài Gòn hy sinh như một anh hùng. Tôi và Thanh Giang tạt vào một khu nhà đổ nát. “Anh Mười nè, tôi đã gặp một vài anh em trên “R”, họ sẵn sàng đưa anh vào một trạm quân y, chăm sóc cho vết thương không hoại tử”.

Tôi thì còn phải tiếp tục lấy thêm tư liệu biệt động anh hùng. Thanh Giang chợt nói:

- Anh Mười à, phần áo trên ngực anh mấy lần thấm máu dày cộp, bám riết vào da anh. Cho tôi lau rửa, bỏ phần đau xót đó.

Và anh Thanh Giang tháo cái băng ra. Từ trong cái bòng, anh lôi một cái bao ni-lông nho nhỏ.

- Anh Năm ơi, tôi xin anh, đừng làm thế. Tôi biết đó là bộ bà ba mà chị Năm Mỏ Cày may tặng cho anh trong ngày cưới...

- Đừng nói nữa, anh phải sáng sủa một chút khi được đưa về “R” chứ!

Anh cắt đứt một vạt áo dày cộp máu khô, rồi lau sạch da thịt tôi và lồng vào người tôi tấm áo bà ba quý giá, tấm áo đó cũng còn vết máu của anh Thanh Giang trong những lần chiến đấu trước. Máu anh rồi máu tôi ướp vào nhau. Nước mắt tôi mằn mặn. Về nơi xa địch, tôi giặt kỹ tấm áo, chờ ngày trả lại cho anh chị.

Tôi biết tấm áo hai lần máu đó là khế ước của tình đồng đội trong chiến đấu không bao giờ phai nhạt.

PHẠM HỒNG