Tôi làm sao quên được các anh: Nguyễn Văn Thọ-Đại đội trưởng, cao ráo, đẹp trai, tóc chải mượt, điềm đạm, dễ gần; Nguyễn Bá Tước-Đại đội phó, một sinh viên hoạt bát, văn nghệ giỏi, từng đóng vai Tào Tháo trong các đêm lửa trại; Phạm Văn Nhâm-Tiểu đội trưởng, có nước da trắng hồng và bộ râu quai nón đẹp, hát hay, tôi còn nhớ mãi bài hát “Đoàn quân ma” mà anh thường hát.

Sau trận đánh, trên đường lui quân, 3 đồng chí hy sinh được đưa về an táng ở một vùng đất ven sông Trường Giang thuộc huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ba anh nằm hàng ngang-anh Tước nằm giữa, anh Nhâm bên trái, anh Đinh bên phải. Lễ tiễn đưa có đông đảo bà con địa phương. Một loạt súng Bờ-ren tiễn biệt các anh về chốn vĩnh hằng. Và chúng tôi cũng xa các anh, xa mảnh đất yên nghỉ của các anh từ đó.

leftcenterrightdel
Tác giả trong lần thăm mộ đồng đội tại xã Bình Giang, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, năm 1998. Ảnh do tác giả cung cấp

Một cuộc trường chinh 30 năm, hết đánh Pháp lại đánh Mỹ. Năm 1996, khi đã nghỉ hưu, tôi mới có điều kiện tìm lại các anh. Trước hết là về lại Cẩm Phô. Cẩm Phô là làng nhỏ nằm giữa sông, kề phố cổ Hội An. Ngày ấy, từ Hội An qua Cẩm Phô phải có đò. Giờ đây, thay cho đò là một chiếc cầu, tên Cẩm Phô cũng thay đổi, nay là xã Cẩm Nam.

Đến đây, gặp các cụ, tôi hỏi: Các cụ có biết trận đánh Cẩm Phô năm 1949 không thành công của bộ đội ta không? Có cụ biết, nói: Trận đó bộ đội ta để lại 4 anh, bọn giặc phơi xác trước đồn. Sau đó, bà con ở đây xin đưa đi an táng ven sông. Những nấm mồ ấy nay không còn vì trận lụt năm Giáp Thìn-1964. Đến đây mà chẳng thấy, chỉ thấy sông nước mênh mông, tôi không khỏi bùi ngùi xúc động. Bốn anh nằm lại, tôi còn nhớ hai anh là Nguyễn Văn Thọ và Nguyễn Chi Lăng. Anh Thọ-Đại đội trưởng quê Khánh Hòa, tên cha là Nguyễn Hòn. Còn anh Lăng, tôi nhớ quê anh ở làng Hải Bối, Đông Anh, Phúc Yên (nay thuộc xã Hải Bối, huyện Đông Anh, TP Hà Nội).

Sau khi thăm Cẩm Phô, tôi viết thư gửi Đảng ủy, UBND xã Hải Bối báo tin anh Lăng hy sinh đêm 2-8-1949. Chỉ một tháng sau, tôi nhận được thư của ông Nguyễn Văn Hữu, em ruột anh Lăng gửi vào, cảm ơn tôi đã báo một tin mà xưa nay gia đình chưa hề biết. Anh Lăng đi theo đoàn quân Nam tiến, cha mẹ mỏi mòn trông đợi và đã qua đời. Được tin trên, gia đình đã lập bàn thờ; nay tha thiết nhờ tôi giúp để anh Lăng có được bằng Tổ quốc ghi công. Tôi đã ra làng Hải Bối, phía bắc cầu Thăng Long thăm gia đình và hoàn thành được việc đề nghị công nhận liệt sĩ cho anh Lăng.

Anh Nguyễn Chi Lăng ra đi còn có được bằng Tổ quốc ghi công, quê hương còn biết. Thương cho anh Thọ, đã không còn mồ mả, nửa thế kỷ rồi, quê anh Khánh Hòa, ai còn biết? Về Cẩm Phô biết mồ mả 4 anh nằm lại không còn. Nhưng 3 anh đưa về an táng ở một vùng ven sông nay ra sao, có còn không?

Ngày ấy, chúng tôi còn rất trẻ, đâu có để ý đó là xóm làng gì, địa phương nào, giờ đây phán đoán vùng đất ven sông Trường Giang có thể là Chợ Bà. Hôm đó, tôi về Chợ Được hỏi bà con: Ở ta, có đường ra Chợ Bà không? Bà con nói, trước đây không có, đi phải lội cát, nay đã có đường đắp đất. Đây ra đó khoảng chục cây số.

Nghe vậy, sẵn có xe máy, tôi đi ngay. Đi được 9 cây số, tôi thấy một nghĩa trang nằm sát đường, cạnh nghĩa trang là cơ quan UBND xã Bình Giang, huyện Thăng Bình. Tôi dừng xe lại và vào cơ quan, trình bày lý do đến địa phương để tìm đồng đội hy sinh trong trận Cẩm Phô đêm 2-8-1949. Nghe tôi kể, đồng chí Chủ tịch UBND xã thở dài, nói: “Tôi lúc đó chưa sinh, không biết được. Thế bác có nhớ vị trí chôn nơi nào, có dựng bia không?”. Tôi trả lời: “Ngày ấy chôn nơi nào không nhớ rõ, có thể là Chợ Bà và lúc đó thì làm gì có bia”. Đồng chí chủ tịch xã nói: “Chợ Bà cách đây một cây số. Vùng này đất cát, mà không có bia thì cũng khó tìm. Thôi được, để chúng tôi về Chợ Bà gặp các cụ tìm hỏi, sẽ báo tin lại cho bác biết”.

Cũng đành phải vậy, tôi viết địa chỉ để lại rồi từ giã ra về. Tôi vừa dắt xe ra khỏi cơ quan, bỗng đâu có một bác từ ngoài đi vào. Nhìn bác cũng đến tuổi “xưa nay hiếm”, mừng quá, tôi hỏi ngay thì quả đúng là người từ nhỏ sống ở Chợ Bà. Nghe tôi kể câu chuyện, bác nói:

- Tôi tên Phan Thiện, quê ở đây. Tôi biết rất rõ việc này. Và những người dự lễ tang ngày ấy, nay cũng chỉ còn mình tôi. Hôm ấy, tôi có mặt từ lúc đưa các anh lên bờ cho đến khi khâm liệm. Nhớ mãi, có một anh da trắng, bộ râu quai nón rất đẹp, tên anh đó là Nhâm, Tiểu đội trưởng”.

Nghe tới đó, tôi hỏi ngay:

- Đúng rồi! Vậy, các anh đó được chôn ở đâu vậy bác?

- Chôn ở trước cơ quan UBND đây!

Vừa nghe bác Phan Thiện nói, đồng chí trẻ tuổi phụ trách nghĩa trang nói: “Ba mộ liệt sĩ này, vừa qua chúng tôi đã đưa vào nghĩa trang rồi, tưởng là liệt sĩ chống Mỹ. Tôi sắp xếp ở cuối nghĩa trang, thứ tự vẫn đặt như cũ. Trên bia ghi là vô danh”.

Được các anh trong ủy ban xã trao cho nén hương, tôi mời các anh và bác Phan Thiện ra mộ… Theo sự hướng dẫn của đồng chí phụ trách, tôi nhanh chóng tìm được mộ 3 anh. Sờ lên phần mộ các anh mà tôi không cầm được nước mắt. Gần 50 năm tôi mới được gặp lại các anh, nếu không có sự gặp gỡ diệu kỳ thì các anh vẫn mãi mãi là vô danh.

Thắp nén hương trầm trên phần mộ các anh, trong làn khói tỏa, tôi chỉ vào ngôi mộ nằm giữa: “Đây là anh Nguyễn Bá Tước, Đại đội phó Đại đội 1, Tiểu đoàn 39. Người nằm bên trái là đồng chí Phạm Văn Nhâm, Tiểu đội trưởng, quê Ngô Khê, Bình Lục, Hà Nam. Và đồng chí này là Nguyễn Văn Đinh, quê Quảng Nam, cùng hy sinh trong trận Cẩm Phô, xin địa phương ghi lại tên bia, đừng để vô danh mà tội”.

Ra về, tôi viết một bài gửi Báo Quân đội nhân dân và một thư gửi về Đảng ủy, UBND xã Ngô Khê báo tin về liệt sĩ Phạm Văn Nhâm, người con của xã. Mấy chục năm rồi, chẳng biết cái tên Ngô Khê còn không? May sao, một tháng sau, tôi nhận được thư của ông Chủ tịch UBND xã Bình Nghĩa. Ông cho biết, Ngô Khê xưa, nay là xã Bình Nghĩa. Ông cảm ơn việc báo tin về người con của Bình Nghĩa ra đi và đã hy sinh vì Tổ quốc. Ông rất tiếc là đã tìm mọi cách thông báo nhưng không ai biết, thân nhân của ông Nhâm cũng chẳng còn ai…

Đọc lá thư của ông chủ tịch xã, tôi không khỏi ngậm ngùi thương cho anh Nhâm-một con người vì quê hương, đất nước ra đi mà đến nay quê hương chẳng ai còn biết. Công việc đến đây tưởng là chấm dứt. Ngờ đâu, mấy tháng sau, tôi lại nhận được một lá thư từ xã Phục Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gửi vào. Đó là thư của ông Phạm Văn Lạc, em ruột của anh Nhâm. Ông nói, ông ở Ngô Khê, cha mẹ mất sớm, chỉ có hai anh em. Anh đi bộ đội Nam tiến từ năm 1945, còn em lại rời quê hương lên Đại Từ, Thái Nguyên sinh sống. Như có ai xui khiến, con trai ông mượn đâu tờ báo Quân đội nhân dân ngày 10-11-1996 về đọc. May mắn sao, lại đọc được câu chuyện về anh Nhâm trên báo. Mừng quá, vậy là ông cầm tờ báo đó lặn lội vào tận xã Bình Giang, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam thăm phần mộ anh Nhâm, đã gặp và cảm ơn ủy ban, cảm ơn bác Phan Thiện. Rồi ông hỏi địa chỉ của tôi, nay viết thư cảm ơn và nhờ tôi giúp anh Nhâm có được bằng Tổ quốc ghi công.

Từ đất Đại Từ bao năm mịt mờ tin tức, tình cờ lại đọc được câu chuyện của anh mình, quả là một sự trùng hợp hiếm có. Anh Phạm Văn Nhâm sau gần 50 năm chiến đấu, hy sinh, tưởng là bà con, quê hương không ai còn biết, nhưng rồi anh đã được trở về với bao điều kỳ diệu.

VÕ VĂN MINH