Trong gian nhà ấm áp giữa những ngày đầu năm 2018, cụ Mai cho chúng tôi xem chiếc kèn Harmonica có dòng chữ “Chiếc kèn dự hội mùa xuân - Huế, Xuân 1968” được đặt cẩn thận giữa những kỷ vật kháng chiến của gia đình.

Cụ Mai kể chuyện cụ dự Tổng tiến công ở TP Huế - Xuân Mậu Thân 1968 trong nỗi bồi hồi xúc động khó tả. Ánh mắt tuổi 85 trở nên long lanh, cuốn hút, như chính lúc cụ làm công tác binh vận ngày ấy.

... “Đầu tháng 9-1967, tôi, lúc đó là Trung úy, Trợ lý chính trị Tiểu đoàn 351, Trung đoàn 2, Quân khu 3 nhận lệnh đi B, với mật ngữ “Dự hội mùa xuân”. Trước khi lên đường, thủ trưởng quân khu tặng tôi chiếc kèn Harmonica hiệu Thượng Hải, Trung Quốc mới tinh, làm phần thưởng thành tích công tác và cũng là để kỷ niệm một người lính yêu âm nhạc đi giải phóng miền Nam.

leftcenterrightdel
Ông Mai kể chuyện “tiến công bằng kèn”.

Vào đến huyện Hương Thủy, tôi được cấp trên giao giữ chức Chính trị viên phó tiểu đoàn, biên chế vào Trung đoàn 5, trực thuộc Bộ chỉ huy Thành đội Huế. Tối 30-1-1968, từ một cánh rừng, chúng tôi vượt sông Hương vào tập kết tại phường Nguyệt Biều, TP Huế. Lúc 2 giờ 33 phút ngày 31-1-1968 (Mồng Một Tết âm lịch), pháo hiệu đỏ vút lên bầu trời. Cùng với những cánh quân từ mọi phía, thê đội chúng tôi xông vào đánh bại đơn vị công binh ngụy ở Trường Bia, rồi hòa vào khí thế hừng hực của cách mạng, tiếp tục chiếm các điểm quan trọng trong thành phố, bắt tù binh về giam tại chùa Từ Đàm…

Sau 5 ngày tiến công liên tục, đến ngày 4-2-1968 (tức Mồng 5 Tết), quân ta đã chiếm hầu hết các mục tiêu lớn ở Huế. Theo yêu cầu nhiệm vụ, tôi được giao phụ trách công tác tuyên truyền của Ban Binh vận Thành đội Huế, dưới sự chỉ huy trực tiếp của anh Phạm Văn Quân (người Gia Lộc, Hải Dương)-Trưởng ban. Tôi phấn chấn triển khai nhiệm vụ, không quên giắt chiếc kèn Harmonica bên mình.

  Ngay chiều hôm đó, tôi sử dụng hai tù binh ngụy lái hai chiếc xe tải cỡ lớn có trưng cờ Giải phóng, đi trên các tuyến đường thành Huế. Xe thứ nhất do anh Tuấn (người Nam Hà) chỉ huy. Tôi chỉ huy chiếc thứ hai. Dọc đường, tôi đứng trên thùng xe thổi kèn Harmonica hai bài “Giải phóng miền Nam” của Huỳnh Minh Siêng và “Vì nhân dân quên mình” của Doãn Quang Khải. Cứ sau mỗi lần thổi kèn là một lần tôi lên loa, kêu gọi: “Hỡi anh em sĩ quan, binh sĩ thuộc ngụy quyền Sài Gòn! Các anh em đã lầm đường, lạc lối. Hôm nay, Mặt trận và Quân Giải phóng tiến công các đô thị miền Nam. Thành phố Huế đang thay ngôi, đổi chủ. Chính quyền về tay nhân dân. Vậy anh em hãy quay về với Mặt trận và Quân Giải phóng, lập công chuộc tội. Mặt trận và Quân Giải phóng sẵn sàng đón anh em”. Thật hay! Nghe tiếng kèn và lời kêu gọi, ngụy binh từ các đồn, các nơi ẩn náu, rủ nhau mang vũ khí ra hàng. Mỗi lượt chúng tôi đi - về, hai xe tải chật ních hàng binh. Những người dân thì không còn như lúc đầu đứng trong nhà nhìn ra nữa. Họ may thêm cờ treo khắp nhà, khắp đường phố, hô khẩu hiệu ủng hộ cách mạng. Nhiều người lau nước mắt sung sướng nhìn con em mình đi theo Quân Giải phóng”...

Nhấp một ngụm trà, cụ Mai sôi nổi khác thường: “Chuyện này mới lý thú! Những lúc không đi gọi hàng, mình lại tổ chức hỏi cung tù binh. Rất thuận lợi là có anh Đinh Quang Chính-người Nam Hà, biết tiếng Anh. Trước khi vào Huế, anh Chính lại được cơ quan bồi dưỡng kiến thức binh vận nữa. Thế là, với tù binh người ngoại bang, tôi nêu câu hỏi, Chính phiên dịch. Một lần hỏi cung hai nữ tù binh người Mỹ. Một cô cao lớn, lúc nào cũng nói, cười. Cô kia nhỏ, lầm lì. Cả hai chỉ độ ngoài đôi mươi. Tôi đối thoại với cô cao lớn: “Cô có yêu Tổ quốc của mình không?”. “Tôi có yêu Tổ quốc của mình!”. “Vậy, tại sao cô lại đi theo lính Mỹ phá Tổ quốc của người khác?”. “Tôi là bác sĩ. Người ta đưa sang đây để cứu chữa thương binh. Tôi không đánh nhau. Nếu được về nước, tôi sẽ vận động nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam”. Tôi đưa một thương binh và túi thuốc đến, cô này thao tác rất điêu luyện. Và trong lúc rửa vết thương cho người thương binh, cô ta cất lên tiếng hát: “Vùng lên! Nhân dân miền Nam anh hùng. Vùng lên! Xông pha vượt qua bão bùng…”. Tôi thật sự ngỡ ngàng, hỏi: “Sao cô biết bài hát này?”. Cô ta trả lời: “Nghe các ông thổi kèn, tôi thích, liền nhờ ông Giải phóng coi nhà tù dạy cho!”. Nữ tù binh còn lại vẫn lầm lì. Cô này khẳng định mình là thợ điện, sang Việt Nam để làm về điện lực chứ không cầm súng đánh nhau - “Nếu nói sai thì Quân Giải phóng cứ trừng phạt”. Cô ấy cũng biết hát Giải phóng miền Nam, nhưng chỉ hát được theo tiếng kèn của Quân Giải phóng”.

Bỗng cụ Mai nhìn xa xăm, vẻ mặt hồi tưởng: “Về sau, từ căn cứ của ta, trong số tù binh, hàng binh được ta thả có hai cô gái ấy. Trước khi theo người chiến sĩ dẫn đường về Huế, các cô khẩn khoản xin được nghe tôi thổi kèn Giải phóng miền Nam một lần nữa. Và hôm đó, hai cô đã gửi lại đất rừng Trị Thiên những giọt nước mắt… Giờ đây, nếu còn sống, họ đã vào tuổi 72, 73 gì đấy. Tôi rất tiếc vì trong lần bị thương sau đó, tôi để thất lạc mất cuốn sổ ghi tên của họ. Nay không còn nhớ!”...

Bài và ảnh: XUÂN THƯƠNG