Tiếp chúng tôi tại trụ sở Đảng Nhân dân Campuchia trong điện Chamkar Mon (Phnom Penh), khi nói đến tình nghĩa Campuchia-Việt Nam, giọng ông khi sôi nổi, khi trầm lắng, chốc lát ông lại đọc câu thơ “Dù ai nói ngả nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân” của người Việt để thể hiện tình cảm của mình.

leftcenterrightdel
Thống tướng Bou Thoong tại trụ sở Đảng Nhân dân Campuchia.

Tôi sinh ra trong một gia đình người dân tộc Tam Puôn vào năm 1938. Tuổi thơ của tôi gắn bó với núi rừng trùng điệp Rattanakiri, một tỉnh phía Đông Bắc Campuchia. Năm 1950, tôi được gia đình gửi vào chùa học 3 năm. 15 tuổi, gặp anh Ba Tum, bộ đội tình nguyện Việt Nam, tôi được biết những điều mới mẻ. Những thắc mắc của tôi về quê hương mình, về dân tộc mình, về chế độ thực dân phong kiến cai trị nhân dân Campuchia dần dần được sáng tỏ. Tôi quyết định đi theo anh, lúc đầu giúp việc, sau làm việc với anh. Tôi gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng giải phóng Campuchia.

Ở với bộ đội Việt Nam, lần đầu tôi biết hương vị Tết Nguyên đán. Đó là vào đầu năm 1953, khoảng giữa tháng 2, tôi thấy các anh bộ đội Việt Nam vào rừng lấy lá dong, xuống bản mua gạo nếp, mua thịt lợn về gói bánh chưng, nói là để ăn Tết. Thấy lạ vì Tết đón năm mới của Campuchia còn hai tháng nữa mới tới, hỏi thì được các anh giải thích: Việt Nam đón năm mới theo lịch mặt trăng. Bộ đội Việt Nam tổ chức đón Tết ấm cúng, cán-binh yêu quý nhau như anh em một nhà.

Sau thời gian chiến đấu ở Lào, tôi được đi Việt Nam học tập quân sự và văn hóa ở Đoàn 900B. Chúng tôi hành quân qua tỉnh Hà Tĩnh, nghỉ lại ở các huyện Hương Khê, Đức Thọ. Tết Ất Mùi 1955, chúng tôi đón năm mới cùng nhân dân Đức Thọ. Tối đến, chúng tôi cùng chính quyền và thanh niên địa phương tổ chức liên hoan văn nghệ. Các em thiếu nhi và mọi người hát vang bài hát “Kết đoàn”. Bài hát đó còn in đậm mãi trong tôi,  theo tôi đi suốt những chặng đường kháng chiến. Những lúc thuận lợi cũng như những lúc khó khăn, tôi lại muốn hát bài ca “Kết đoàn”.

Năm 1955, chúng tôi bước vào học tiếng Việt. Thực ra lúc đó tôi đã nghe và nói được ít nhiều tiếng Việt. Mọi người đều khen tôi có năng khiếu vì tôi có thể nghe và nói được tất cả các tiếng dân tộc ở Đông Bắc Campuchia, như tiếng Gia Rai, Tam Puôn, nghe và nói được tiếng Lào, tiếng Thái... Đến năm 1957, tôi học xong lớp 5. Bộ đội lúc đó mà có trình độ lớp 5 là khá lắm rồi. Tôi còn nhớ lúc ấy đồng chí Tôn Đức Thắng là Trưởng ban Thường trực Quốc hội của Việt Nam (Chủ tịch Quốc hội bây giờ) đến trao tặng danh hiệu xóa mù chữ cho chúng tôi. Chúng tôi vô cùng phấn khởi được đón một vị lãnh đạo cao cấp của Việt Nam mà sau này trở thành Chủ tịch nước. Buổi lễ thật long trọng nhưng cũng rất thân tình.

Năm 1957, tôi chính thức gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam, đơn vị đóng ở xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ở đây, tôi được học trường hạ sĩ quan trong một năm. Tết Mậu Tuất 1958, chúng tôi ăn Tết với nhân dân ở đây, được giao lưu trong ngày Tết với các o thôn nữ thật là vui. Các o rất có cảm tình với tôi, hỏi tôi có phải bộ đội Tây Nguyên không. Lúc ấy tôi đã học xong lớp 7, tiếng Việt của tôi lưu loát, lại được các o, các chị dạy thêm, nên khi tôi nói tôi là bộ đội Tây Nguyên thì ai cũng tin. Cũng trong thời gian ở đây, tôi được biết Nghi Xuân là quê hương của thi hào Việt Nam Nguyễn Du. Tôi cũng được đọc những câu Kiều đầu tiên vào thời điểm này.

8 năm liên tiếp từ 1963 đến 1970, tôi ăn Tết Nguyên đán Việt Nam trong các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Bắc. Điều lắng đọng sâu sắc nhất trong tâm trí tôi là cán bộ, chiến sĩ Việt Nam quý mến tôi như anh em một nhà. Thấy tôi xa cha mẹ, xa anh em đằng đẵng, ai cũng thương, ngày thường, nhất là ngày Tết, luôn dành miếng ăn ngon nhất, đồ vật quý nhất cho tôi.

Ngày 30-5-1970, tôi được lệnh trở lại chiến trường Campuchia. Trước ngày lên đường, chúng tôi tổ chức liên hoan ở Hà Nội. Cuộc liên hoan thật giản dị mà đậm đà tình nghĩa người ở, người đi. Đêm đầu tiên xa anh em bộ đội Việt Nam, tôi thao thức không ngủ được. Tôi lại nhớ hình ảnh, những ánh mắt, nụ cười của các mẹ, các o, của những người dân Việt Nam ở các địa phương tôi đã đi qua, những ngày Tết Nguyên đán được sống trong vòng tay yêu thương của quân và dân Việt Nam. Lần này trở về quê hương chiến đấu, biết đến khi nào mới có dịp trở lại gặp con người và đất nước nơi tôi đã học tập, trưởng thành.

Về đến địa điểm tập kết, tôi được cử làm Trưởng ban Nghiên cứu đường sá vùng Đông Bắc Campuchia, năm 1973 được cử làm Trợ lý Quân khu Đông Bắc, phụ trách công tác huấn luyện, giáo dục cho bộ đội. Các năm 1971, 1972, 1973, tôi được đón năm mới Campuchia, Tết Chol Chnam Thmay. Vui với bộ đội, bà con quê hương, tôi vẫn không sao quên được những cái Tết Việt Nam mà tôi được hưởng từ tuổi 17 đến tuổi 32, nghĩa là trọn tuổi xuân của tôi ở Việt Nam.

Pol Pot trở mặt, phủ nhận mọi sự giúp đỡ chính nghĩa của Việt Nam, thù địch với Việt Nam. Chúng còn thâm độc dùng người dân tộc để giết hại người dân tộc, dùng quân đội trước là bạn của Việt Nam đi giết người Việt Nam. Đón năm mới Campuchia năm 1974, chúng tôi sống trong một không khí thật ngột ngạt.

leftcenterrightdel
Thống tướng Bou Thoong chụp ảnh cùng đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam sang làm việc với Thường trực Ban Thường vụ Đảng Nhân dân Campuchia, tháng 1-2014. Ảnh: SOKHA

Cuối năm 1974, tôi quyết định ly khai khỏi quân đội Pol Pot, trở lại Việt Nam mà trong thâm tâm tôi đã coi là Tổ quốc thứ hai của mình. Tôi đi xuyên rừng, chạy sang tỉnh Gia Lai. Đến nơi, tôi gặp nhiều anh em người dân tộc nổi dậy chống Pol Pot cũng tập hợp nhau ở đây. Tôi quyết không chạy đi Thái Lan, đi Mỹ mà đi Việt Nam. Tôi biết Việt Nam là bạn của nhân dân và những người cách mạng chân chính Campuchia. Việt Nam không có gì thay đổi trong lòng chúng tôi.

Tôi lãnh đạo một nhóm người nổi dậy thuộc 12 làng, thường xuyên liên hệ với cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1976, gặp lại đồng chí Nam Vinh, tôi nói tình hình Campuchia không tốt, đề nghị anh báo cáo lại với lãnh đạo cấp cao Việt Nam. Năm 1977, tôi liên hệ được với Trung ương Đảng Việt Nam, được gặp đồng chí Lê Đức Thọ và nhiều lãnh đạo khác. Lúc ấy, tôi là lãnh đạo trại Gia Pốc, là điểm đầu tiên của cách mạng

Campuchia chống lại Pol Pot ở vùng Đông Bắc. Tôi nêu 6 đề nghị: Một là xin Việt Nam giúp giải phóng chúng tôi. Hai là cho chúng tôi đến gặp đồng chí Chea Sim, đồng chí Heng Samrin và đồng chí Hun Sen đang ở Nam Bộ. Ba là giúp chúng tôi thành lập mặt trận. Bốn là xây dựng quân đội. Năm là giúp chúng tôi lập đài phát thanh và sáu là giúp chúng tôi liên hệ với các đảng khác để vận động họ ủng hộ chúng tôi lật đổ bè lũ Pol Pot. Các đồng chí Việt Nam đã ủng hộ chúng tôi. 

Những năm từ 1975 đến 1978, vận mệnh đất nước Campuchia ở vào thời điểm khó khăn nhất nên có thể nói tôi không để ý đến việc đón năm mới, ăn Tết. Sau ngày 7-1-1979, Tết Nguyên đán Kỷ Mùi 1979 do anh em Quân tình nguyện Việt Nam tổ chức ở thành phố Phnom Penh rất sôi nổi, rộn ràng. Đó là cái Tết vui chiến thắng, đầy tình cảm quốc tế vô sản cao cả, sâu nặng nghĩa tình của những người anh em cùng chiến hào giải phóng đất nước khỏi chế độ thực dân Pháp, đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ bè lũ Pol Pot, giải phóng nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng. Tôi đón Tết Nguyên đán Kỷ Mùi 1979 với anh em Việt Nam đang làm nhiệm vụ chuyên gia giúp nhà nước và quân đội Campuchia. Lúc đó cả hai nhà nước Campuchia và Việt Nam còn khó khăn, nhưng anh em Việt Nam vẫn có đủ thịt lợn, dưa hành, bánh chưng và câu đối Tết từ trong nước đưa sang và làm tại chỗ đóng quân.

Năm đó đón Tết Việt Nam ở Phnom Penh vui bao nhiêu, tôi lại càng nao lòng nhớ đến những cái Tết ở Việt Nam trong những năm tập kết sang đó học hành, phấn đấu trọn cả tuổi trẻ đời mình.

(*) Ghi theo lời kể của Thống tướng Bou Thoong

LÊ LIÊN (*)