Sinh ngày 17-3-1913 trong một gia đình nghèo, đông con ở xã Yên Lưu, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay thuộc xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An), Chu Văn Điền (tên khai sinh của anh Hai Mạnh) vừa đi học vừa chăn trâu cắt cỏ. Anh yêu tha thiết những đồng lúa xanh rờn của quê hương, chia sẻ, cảm thông với người nông dân một nắng hai sương ở làng quê mình. Dòng sông Lam, núi Hồng Lĩnh, tiếng còi nhà máy xe lửa Tràng Thi-Bến Thủy in dấu không phai mờ suốt tuổi thơ anh. Hồi đó, anh thường tự hỏi: Một quê hương như thế này sao phải chịu khổ? Bố mẹ anh phải bán hai chị gái vì không nuôi nổi con. Anh mơ ước có sự đổi đời cho anh, cho gia đình anh, cho mọi làng quê ở đất nước này. Chu Văn Điền được kết nạp Đảng năm 1930, năm đó anh mới 17 tuổi và được phân công là Đội phó Đội Tự vệ đỏ.

leftcenterrightdel
Tư lệnh Quân khu 5 Chu Huy Mân (ngoài cùng, bên trái) tại đài quan sát một chiến dịch, tháng 6-1972. Ảnh tư liệu

Tháng 5-1940, Chu Huy Mân lại bị địch bắt, giam tại Đắc Lây, rồi Đắc Tô (Kon Tum). Tháng 3-1943, anh cùng với Nguyễn Duy Trinh, Huỳnh Ngọc Huệ và Hà Thế Hạnh trốn khỏi trại giam, trở về tiếp tục hoạt động cách mạng. Từ năm 1945 đến 1954 là chặng đường đầy gian lao, thử thách của dân tộc Việt Nam. Chu Huy Mân gánh trên vai nhiều nhiệm vụ khác nhau. Có lúc là Chính trị viên Mặt trận Đường 9, có khi là Quân khu ủy viên Quân khu Việt Bắc… Ấn tượng không phai mờ trong cuộc đời binh nghiệp của anh là những ngày gian lao nhưng vô cùng hào hùng tiến đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Hồi đó, anh là Chính ủy Đại đoàn 316 đánh hướng đông vào đồi C1, C2 và A1. Không thể kể xiết tâm trạng lo âu, hồi hộp, sự phấn chấn, niềm tự hào của anh suốt thời gian đại đoàn nổ súng tiêu diệt các tiền đồn cố thủ ấy.Đầu tháng 6-1931, một cuộc bắt bớ đàn áp dã man của thực dân Pháp ập vào Yên Lưu. Năm người trong xã bị nghi là đảng viên cộng sản bị chúng bắt giam, trong đó có Chu Văn Điền. Họ bị trói vào gốc cây, bị đánh đập tàn bạo. Người cuối cùng không chịu ký vào biên bản cam đoan “Không theo Cộng sản” là Chu Văn Điền. Đòn roi tiếp tục dồn hết cho một mình anh. Càng bị đánh đập dã man, Chu Văn Điền càng kiên gan. Anh tuyệt nhiên không khai một lời nào. Đến ngày thứ ba, không thể làm được gì hơn, chúng đành thả anh ra. Trở về với mẹ, người anh đầy thương tích. Anh còn sống được là nhờ dân trong vùng bí mật gửi đồ ăn đến nuôi. Trên con đường cách mạng vời vợi, đầy chông gai sau này anh còn nhớ mãi tình làng nghĩa xóm, sự đùm bọc thương yêu của người dân. Năm 1936, anh đổi tên thành Chu Huy Mân, được cử đi dự Hội nghị Tỉnh ủy Nghệ An mở rộng tại Nghi Lộc.

Nhưng cuộc đời binh nghiệp của anh Hai Mạnh gắn bó nhiều nhất với đất Khu 5 trung dũng kiên cường trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tháng 3-1964, Trung ương cử anh dẫn đầu đoàn kiểm tra vào Khu 5, sau đó ở lại làm Chính ủy, rồi Tư lệnh Quân khu. Chiến tranh ở đây chủ yếu là chiến tranh du kích. Anh quyết tâm xây dựng các trung đoàn chủ lực, tác chiến bằng quả đấm quy mô lớn, đánh chính quy, làm chuyển động chiến trường này. Anh quyết định phải có những đại đội chủ lực của ta đánh bại đại đội chủ lực của địch. Trận đầu tiên là trận Kỳ Sanh, Đức Phú cuối năm 1964. Trận đánh này không những chúng ta tiêu diệt gọn đại đội của địch mà còn thu được xe bọc thép của chúng. Nhà văn Nguyễn Chí Trung đi theo trận đánh đã có bài viết rất hay: “Thép của chúng ta” đăng trên Báo Quân đội nhân dân.

Sau trận đó, Quân khu 5 lệnh cho các tiểu đoàn thuộc quyền đánh tiêu diệt tiểu đoàn chủ lực của địch. Ba Gia là một trận đánh sáng tạo, hiệu quả, làm run rẩy ý đồ ngông ngược của quân xâm lược, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ quân khu xây dựng những binh đoàn chủ lực hùng mạnh. Ba Gia cũng là trận đánh kết thúc giai đoạn “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Cuối năm 1965, một lực lượng hùng hậu của Mỹ đổ quân xuống chiến trường Khu 5, biến Đà Nẵng thành pháo đài quân sự khổng lồ. Chúng xây dựng Chu Lai, Núi Thành, Vạn Tường thành những căn cứ quân sự kiên cố với các đơn vị thiện chiến: Lính thủy đánh bộ, thủy quân lục chiến, không quân. Khi địch vừa đổ quân xuống Chu Lai, anh Hai Mạnh lệnh cho du kích bám chắc, vây chặt. Lúc này, không khỏi có người ngại đụng chạm với Mỹ, quân khu đã bồi dưỡng tạo điều kiện cho một đại đội địa phương tiêu diệt một đại đội Mỹ. Đại đội 2, Tiểu đoàn 70 Quảng Đà (nay thuộc Quảng Nam) đã bằng dao găm, thủ pháo đánh nát một đại đội Mỹ ở Núi Thành, gây kinh hoàng cho lính Mỹ và khẳng định ý chí quyết chiến quyết thắng quân xâm lược của quân và dân ta.

Từ năm 1965 đến 1967, anh Hai Mạnh là Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên. Lúc này, chủ lực ta ở Tây Nguyên còn hạn chế. Anh Hai Mạnh đã dấy lên phong trào dám đánh và đánh thắng “Chiến tranh cục bộ”. Thời gian gấp nhưng anh đã cùng cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên mở Chiến dịch Plây Me với quyết tâm: Tiêu diệt toàn bộ chiến đoàn quân cơ động chủ lực của Mỹ. Đánh tiêu diệt, đánh bằng dao găm, bằng lưỡi lê. Đánh với tinh thần bám thắt lưng địch mà đánh. Trận Plây Me, quân ta đã diệt 305 tên Mỹ. Tướng tá Mỹ đã phải kêu lên: “Một trận đánh làm thay đổi cục diện chiến tranh”.

Hiệp định Paris được ký kết, nhưng ý đồ phá hoại của địch đã lộ rõ từ đầu. Thừa cơ ta ngưng súng, địch cướp đất dồn dân, bộ đội bị tổn thương nặng. Tướng Hai Mạnh chủ trương tạm dừng các cuộc tấn công, chuẩn bị lực lượng, huấn luyện và tăng gia sản xuất, tích trữ lương thực, làm đường chuẩn bị cho một chiến dịch lớn nhất định sẽ đến. Tất nhiên không phải ai cũng hiểu được như vậy. Nhiều cán bộ ngơ ngác, dân phải quay lại sống với địch kêu trời… Ngoài bộ cũng nghi ngờ, cử tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng vào Quân khu 5 xem xét. Sau mấy ngày đi khảo sát, tướng Lê Trọng Tấn nói với tướng Hai Mạnh:

 - Anh nghĩ thế nào khi nhìn xuống đồng bằng, hầu như ta không còn chỗ nào đứng chân? Ngoài đó có người bảo Quân khu 5 đang án binh bất động.

- Nói vậy là quá đáng và bất công. Không có chuyện như vậy đâu, nhưng dù thế nào, nhất định tôi cũng không đưa hết lực lượng xuống đồng bằng dằn mặt với thằng địch. Làm vậy là ích kỷ, là không thương tiếc xương máu bộ đội, là không có đầu óc mưu lược, không có chuẩn bị cho tổng tiến công.

- Thế các anh đã chuẩn bị thế nào rồi?

- Thì hôm nay tôi sẽ trình bày với anh đây!

Anh Hai Mạnh nói một thôi một hồi về ý định và kế hoạch của mình:

- Bức xúc nhất của chúng tôi hiện nay là ở đây, vùng B Đại Lộc, trước là vùng giải phóng của ta. Dân ở đây hiện chịu nhiều cơ cực. Muốn lấy lại vùng B phải giải quyết được “thằng” Thượng Đức. Anh về đây khi có thời cơ nên xin cấp trên một lực lượng nào đó phối hợp với Quân khu 5 cắt béng nó đi.

- Ô hay, thì ra anh đã biết ý định của bộ? Đúng là vừa qua ngoài Bắc nghe được khá nhiều chuyện không hay về Quân khu 5. Bộ cử tôi dẫn đoàn vào đây xem xét. Anh nghe thông tin ở đâu nhanh vậy?

- Đến vợ tôi ở tận Bắc Giang còn biết chuyện, viết thư khuyên tôi nên thôi chức tư lệnh!

- Vậy anh nghĩ chủ trương của anh vừa rồi không đúng chăng?

- Không phải vậy. Tôi tin là mình đúng chứ! Còn anh?

- Đã tin thì cứ thế làm thôi. Tôi ủng hộ. Sẽ chẳng có chuyện gì thay đổi đâu…

Kể lại với tôi chuyện này, khuôn mặt Đại tướng Chu Huy Mân bỗng toát lên một niềm tự hào rạng rỡ. Làm sao không tự hào khi một thời gian dài, anh đã phải chịu đựng bao nhiêu chỉ trích về một chủ trương hoàn toàn đúng và hiện thực đã chứng minh là như vậy. Năm 1974 thời cơ đến, chủ lực và bộ đội địa phương Khu 5 do được chuẩn bị chu đáo đã đồng loạt ra quân. Sư đoàn 2 tấn công Trung Phước, Nông Sơn, phối hợp với quân của bộ đánh Thượng Đức. Phía nam, Sư đoàn 3 cùng Lữ đoàn 52 đánh Minh Long, Giá Vụt. Mùa xuân năm 1975, Quân khu 5 phối hợp với quân chủ lực của bộ đánh chiếm Đà Nẵng và nhanh chóng giải phóng các tỉnh duyên hải miền Trung.

Sau năm 1976, Đại tướng Chu Huy Mân là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, rồi Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Cuối năm 1986, Đại tướng Chu Huy Mân được Đảng và Nhà nước cho nghỉ công tác theo chế độ. Ông thanh thản ở ngôi nhà một tầng lợp mái tôn phố Lý Nam Đế, Hà Nội. Một ngôi nhà giản dị bình thường. Ông bằng lòng với cuộc sống của mình. Ông đưa cho tôi xem tấm ảnh chụp lúc thiếu thời và tấm ảnh chụp khi là Đại tướng rồi nói: “Từ anh thân tàn ma dại thế này rồi thành người thế này, còn đòi hỏi gì nữa”. Có lẽ vậy, hai tấm ảnh như hai số phận, hai cuộc đời hoàn toàn khác biệt ấy đã nói lên cái được, cái mất của ông cũng như của dân tộc này vậy.

NGUYỄN BẢO