18 tuổi, nhập ngũ là chiến sĩ hóa học thuộc Tiểu đoàn 38, Quân khu 4, rồi đi học hạ sĩ quan, năm 1966, ra trường, tôi được phân công về Đại đội 91, Tiểu đoàn 901, Cục Hóa học công tác. Năm 1967, đang chỉ huy bộ đội luyện tập, tôi được giao nhiệm vụ dẫn đầu một phân đội súng phun lửa vào chiến trường. Thời điểm này, tuy được đào tạo chính quy, có quãng thời gian dài học tập, huấn luyện, chỉ huy trên thao trường, nhưng chưa trực tiếp vào chiến trường nên tôi không khỏi lo lắng. Mặc dù vậy, xác định là người chỉ huy, tôi động viên anh em luyện tập thật tốt để chuẩn bị cho những ngày “thử lửa”.

Chúng tôi được xe ô tô đưa từ Sơn Tây, tới Thanh Hóa rồi theo đường giao liên vào chiến trường. Do đặc thù phải mang vác khí tài nặng, trung bình từ 25 đến 30kg, lại hành quân đường dài mấy tháng mới vào tới chiến trường nên dù đã được huấn luyện kỹ, một số đồng chí sức khỏe yếu vẫn không tránh khỏi mệt nhọc. Tôi vừa động viên anh em, vừa hỗ trợ những anh em yếu mệt.

Đến nơi, chúng tôi được bố trí trong đội hình phối thuộc với Trung đoàn 24, Sư đoàn 304. Thật tình cờ, tôi gặp lại đồng đội, người thầy khi còn ở trường sĩ quan là anh Nguyễn Tiến Ban, khi đó là Tham mưu trưởng Trung đoàn 24. Sau cái bắt tay thật chặt, anh không quên dặn dò tôi phải chuẩn bị thật kỹ vì giờ G đêm hôm ấy (6-2-1968), chúng tôi sẽ được lệnh xuất kích tấn công cứ điểm Làng Vây.

leftcenterrightdel
Đại tá Trần Đức Quảng. Ảnh: THU THỦY.

Làng Vây là một cứ điểm mạnh trong hệ thống phòng thủ Đường số 9 của Mỹ-ngụy. Chúng tôi được giao nhiệm vụ cùng với bộ đội đặc công nằm trong tuyến mũi nhọn tiến công cứ điểm này. Đúng 23 giờ 15 phút ngày 6-2-1968, chúng tôi nhận lệnh phối thuộc với các đơn vị bạn mở cửa, đánh chiếm đầu cầu. Sau 10 phút hỏa lực bắn phá, lúc 23 giờ 25 phút, một đại đội xe tăng bật đèn pha theo đường ô tô vào chiếm lĩnh trận địa, chúng tôi cũng triển khai đội hình dùng súng phun lửa tiêu diệt ụ súng, lô cốt chi viện cho bộ binh, đặc công mở cửa. Thấy bộ binh mở cửa chậm, xe tăng 1 tiến lên sát hàng rào thứ hai chi viện, bắn được 2 quả thì xe tăng 1 trúng đạn, pháo thủ bắn thêm được 3 quả đạn nữa thì xe bốc cháy. Tôi đang bò theo sát xe tăng, chợt nghe tiếng một đồng chí trên xe: “Các đồng chí xung phong, nó bắn mạnh lắm!”. Tôi lao đến bên, anh đã bị thương, sờ thấy mảnh pháo găm vào bụng. Anh yêu cầu tôi rút mảnh đạn ra, trao cho tôi chiếc bút Hồng Hà, chỉ kịp nói “quê ở Vĩnh Phú, là chính trị viên của đại đội xe tăng...” rồi anh dũng hy sinh.

Lúc này, các tiểu đoàn bộ binh, đặc công tiếp tục mở cửa, khi mở được 3 lớp hàng rào, địch phát hiện, dùng hỏa lực tập trung ngăn chặn quyết liệt, không cho ta mở cửa. Trận đánh ở vào thế giằng co ác liệt. Địch lợi dụng các lô cốt, công sự, hầm ngầm chống trả dữ dội. Vì vậy, lực lượng mở cửa bị thương vong một số đồng chí. Sau khi chấn chỉnh lại lực lượng, ta tiếp tục tấn công. Tôi theo một chiếc xe tăng tiến vào trận địa. Đồng chí trung đội trưởng đặc công lệnh cho tôi cầm lựu đạn ném vào lô cốt đầu cầu. Bộ đội ta đã mở xong cả 5 lớp hàng rào. Lực lượng đột kích cùng với Trung đội tăng 1 gồm xe tăng 2 và xe tăng 3 xung phong.

Tôi cầm khẩu K50, bên mình giắt hai quả lựu đạn vượt cửa mở. Sục sạo trong các hầm ngầm của địch, chợt tôi thấy 3 tên địch đang lóp ngóp bò lên khỏi ngầm. Tôi hô to:

- Giơ tay lên!

 Bọn chúng quỳ mọp xuống đất kêu lớn:

 - Xin ông tha cho, chúng tôi không bắn ai cả! Súng vẫn còn nguyên ạ!

Tôi yêu cầu chúng bỏ súng và giơ hai tay lên đầu. Nhìn xung quanh, đơn vị phối thuộc dường như đã rút ra hết, chỉ còn tôi với bọn chúng. Tôi hỏi:

- Các anh có biết đường về hậu cứ không?

- Dạ có! Để chúng tôi dẫn đường!

Mấy tên ngụy này quả là rất thông thuộc đường sá ở đây. Rạng sáng, tôi đã đưa chúng về đến sở chỉ huy, giao cho cán bộ trung đoàn. Gặp lại, anh Nguyễn Tiến Ban ôm tôi nghẹn ngào: “Đơn vị đã về hết, chỉ còn mình em không thấy đâu, anh sợ em hy sinh...”.

Sau khi ổn định tình hình, trên yêu cầu một tổ súng phun lửa phối thuộc truy kích địch còn đang co cụm ẩn nấp trong các hầm ngầm. Đồng chí Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân Đỉnh và đồng chí An được giao nhiệm vụ xuất kích. Các đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sau chiến thắng này, cả bốn chúng tôi cùng vinh dự được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, phân đội súng phun lửa được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì.

KHÁNH AN