Trước đó, vào dịp kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (1961-2011), tập thể Tàu 69 do ông trực tiếp chỉ huy cũng đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Ông Nguyễn Hữu Phước sinh năm 1932 tại xã Long Thạnh, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Hiện nay, gia đình ông sống giản dị trong con hẻm nhỏ thuộc phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.

Năm 1948, mới 16 tuổi, ông Phước xung phong vào một đơn vị bộ đội thuộc Quân khu 9, trực tiếp cầm súng đánh giặc; hơn một năm sau, ông được kết nạp Đảng, đến năm 1954 thì tập kết ra Bắc. Sau khi được lựa chọn đào tạo, huấn luyện kỹ lưỡng, tháng 7-1963, ông Nguyễn Hữu Phước được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ Thuyền trưởng Tàu 69 thuộc Đoàn Vận tải biển 759 (sau đổi tên thành Đoàn 125, Quân chủng Hải quân) thực hiện nhiệm vụ bí mật vận chuyển vũ khí bằng đường biển từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam.

leftcenterrightdel
Cuối năm 2015, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (nay là Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh) đến thăm, trao quà tặng ông Nguyễn Hữu Phước.

Ông Phước kể: “Từ năm 1963 đến tháng 4-1975, Tàu 69 do tôi làm thuyền trưởng thực hiện thành công 8 chuyến chở vũ khí vào miền Nam, mỗi chuyến khoảng 62 tấn. Bến tiếp nhận vũ khí được bố trí tại vùng biển các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Trà Vinh, do Đơn vị 962 (nay là Lữ đoàn 962, Quân khu 9) đảm trách. Trong một số chuyến vận chuyển vũ khí, cấp trên còn giao thêm nhiệm vụ chở cán bộ vào tăng cường cho miền Nam. Sau này tôi mới biết, trong số các cán bộ cao cấp có những người như: Chị Bảy Vân (phu nhân cố Tổng Bí thư Lê Duẩn), tướng Hoàng Thế Thiện, GS Nguyễn Thiện Thành… Trong những chuyến lên đường làm nhiệm vụ thì chuyến chở vũ khí vào tháng 4-1966 là cam go nhất”.

Cẩn thận mở tấm hải đồ treo lên tường nhà, vị thuyền trưởng của Đoàn tàu Không số năm xưa chia sẻ: Tấm hải đồ này tôi giữ từ năm 1963 tới giờ, nhờ nó mà Tàu 69 luôn đi đúng hướng.

Ông Phước vừa đọc bản đồ vừa dẫn giải, kể rành mạch từng chi tiết trận chiến đấu của Tàu 69 trong lần đụng địch năm nào…

Ngày 21-4-1966, Tàu 69 nhận hơn 61 tấn vũ khí tại Đồ Sơn, điểm đến là bến Vàm Lũng (xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau). Đêm 28-4, bàn giao hàng cho Đoàn 962 xong, tàu chuẩn bị quay ra thì nhận được yêu cầu của chỉ huy Đoàn 962: Cơ động đến rạch Láng Cháo gần đó trú tạm, chờ Tàu 100 (cũng thuộc Đoàn tàu Không số) vào Rạch Già trên cửa Bồ Đề mới được ra vì luồng lạch hẹp.

Đêm 30-4, Tàu 100 trên đường vào Rạch Già thì bị mắc cạn, địch phát hiện và bao vây bên ngoài. Không di chuyển được, chỉ huy Tàu 100 buộc phải ra lệnh cho cán bộ, chiến sĩ bơi vào bờ và hủy tàu. Nhưng không rõ nguyên nhân gì, chất nổ để hủy tàu… không chịu nổ, trong khi tàu chiến và máy bay địch bắn xối xả vào con tàu. Chờ trời tối, Đoàn 962 cử người ra dùng bộc phá, phá hủy hoàn toàn Tàu 100. Sau khi Tàu 100 bị lộ, địch phong tỏa vùng biển rất gắt gao. Tàu 69 tiếp tục ém lại Vàm Lũng chờ thời cơ. Suốt 8 tháng chờ đợi, đến ngày 30-12-1966, Tàu 69 mới được lệnh trở ra Bắc.

Ban chỉ huy Tàu 69 lúc này, ngoài Thuyền trưởng Nguyễn Hữu Phước và Chính trị viên Tăng Văn Huyền còn có hai Thuyền phó Nguyễn Tiến Hai và Nguyễn Hận. Các thành viên gồm: Nguyễn Văn Bé (máy trưởng), Đoàn Văn Dĩ (thủy thủ trưởng), Phan Hải Hồ (báo vụ), Lê Xuân Khảm, Cao Sĩ Thập, Hoàng Thanh Loan, Diệp Minh Hiếu, Phạm Ngọc Kiểu, Hồ Quang Phụng, Lưu Kim Nhật, Huỳnh Văn Nữa, Bá Châu Báu.

Ông Phước hồi tưởng: Tối 30-12, vừa ra khỏi Vàm Lũng, chúng tôi phát hiện tàu địch đang neo đậu cách vàm hơn 1km nên bí mật quay trở vào. Đêm hôm sau lại tiếp tục ra khơi, hướng đi giữa Côn Đảo và Hòn Khoai. Đến khoảng 21 giờ, khi cách đất liền khoảng 50km, chúng tôi quan sát có một tàu nghi là tàu địch di chuyển theo hướng Côn Đảo sang Hòn Khoai. Căn cứ các đặc điểm nhận dạng, chúng tôi nhận định đây là tàu tuần tiễu của địch nên hạ lệnh sẵn sàng chiến đấu. Tàu 69 chỉ được trang bị 1 khẩu pháo DKZ 75mm với 20 quả đạn; 2 khẩu 12,7mm cùng cơ số đạn; 3 khẩu B41 (60 quả đạn); 5 khẩu AK (500 viên đạn); 1.000kg thuốc nổ TNT (dùng để hủy tàu trong trường hợp bất khả kháng)… 30 phút sau xuất hiện một tàu cao tốc khác của địch đuổi theo, nhanh chóng áp sát, dùng đèn pha chiếu thẳng vào Tàu 69. Tôi quyết định ngoặt lái sang bên trái để tàu ta vuông góc với mục tiêu, cùng lúc đó hai bên đồng loạt nổ súng. Mục tiêu tàu địch bị tiêu diệt. Tàu 69 có hai đồng chí (Hồ và Hiếu) bị thương, đồng chí Đoàn Văn Dĩ, thủy thủ trưởng hy sinh.

Ban chỉ huy tàu hội ý chớp nhoáng, nhất trí cho tàu vào bến vì nếu tiếp tục ra khơi, nhất định sẽ bị địch bắt sống hoặc tiêu diệt. Tôi ra lệnh bắn hai phát pháo đỏ thật cao cho trong bờ biết là tàu của ta gặp địch nên quay lại. Cùng lúc đó, tàu tuần tiễu của địch mà ta đã phát hiện ban đầu bắn pháo sáng treo lơ lửng trên đầu Tàu 69 để giữ mục tiêu, cầu cứu chi viện của đồng bọn. Cán bộ, chiến sĩ trên tàu khẩn trương chuyển toàn bộ vũ khí từ hầm lên vị trí chiến đấu. Đồng chí chính trị viên đến động viên từng người, quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Đồng chí Phan Hải Hồ bị thương gần đứt lìa bàn chân, anh yêu cầu y tá cắt bỏ cho khỏi vướng để tiếp tục quyết tử bảo vệ tàu.

23 giờ 30 phút, khi Tàu 69 còn cách bờ khoảng 10km thì 5 tàu PCF (loại cao tốc) của địch từ căn cứ Năm Căn đến. Chúng rọi đèn sáng rực, dàn đội hình vây hãm Tàu 69. Ý đồ của chúng là ép Tàu 69 vào bãi cạn gần mũi Cà Mau để bắt sống, nếu không thực hiện được sẽ nổ súng tiêu diệt. Thuyền trưởng cho Tàu 69 giữ nguyên hướng đi, đồng thời hạ lệnh 3 khẩu B41 và DKZ, nếu cự ly ngoài 500m thì không được bắn; còn 2 khẩu 12,7mm, cự ly cách 1.000m là bắn mãnh liệt. Đến 24 giờ, địch điều thêm 2 máy bay đến. Vậy là Tàu 69 vừa đánh trả tàu, vừa đánh trả máy bay địch. Hai máy bay của địch lượn một vòng, sau đó bay dọc ven biển. Chúng thả pháo sáng từ vàm Rạch Ráng đến vàm Kiến Vàng dài hơn 2km sáng rực một góc biển trời. Từ pháo sáng của địch, Tàu 69 nhìn rõ cửa Vàm Lũng như ban ngày. Lúc này trên bờ, lực lượng bảo vệ bến Vàm Lũng của Đoàn 962 dùng súng 12,7mm bắn cấp tập vào 5 tàu địch khiến chúng chạy ra xa rồi mất hút, Tàu 69 vào Vàm Lũng an toàn.

Ông Phước cười sảng khoái: Khi vào bờ chúng tôi kiểm tra lại, Tàu 69 bị trúng đến 121 vết đạn, cũng may các lỗ thủng đều từ vạch mớn nước trở lên nên không bị nước tràn vào. Sáng sớm hôm sau, tôi mở đài phát thanh của chính quyền Sài Gòn, chúng loan tin rằng lúc 23 giờ ngày 31-12-1966, hải quân của quân lực Việt Nam cộng hòa đã bắn chìm một tàu của Bắc Việt chở vũ khí cho Việt cộng miền Nam Việt Nam ở phía nam cửa Bồ Đề 20 hải lý. “Sở dĩ địch loan tin như vậy là do cấp dưới báo cáo láo lên trên để được khen thưởng và khỏi phải bị bắt đi kiểm tra giữa rừng sâu nguy hiểm”, ông Phước nói.

Bài và ảnh: HỒNG ĐĂNG