Tháng 8-1970, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, 19 anh em của huyện Văn Giang chúng tôi, trong đó có Lý Văn Lộng lên đường đánh Mỹ. Lộng là con đầu trong một gia đình có 4 anh em, bố là thương binh chống Pháp bị cụt cánh tay trái. Do hoàn cảnh gia đình, Lộng chỉ học hết cấp 2 rồi ở nhà lao động phụ giúp cha mẹ. Lộng có dáng người thấp, đậm nhưng nhanh nhẹn, khỏe khoắn và hòa đồng nên chúng tôi nhanh chóng trở thành anh em thân thiết. Cùng tuổi nhưng tôi cao lớn hơn và khi vào huấn luyện tân binh ở Tiểu đội 1, Trung đội 3, Đại đội 1, Tiểu đoàn 634, Trung đoàn 2 (Tỉnh đội Hải Hưng), tôi được cấp trên chỉ định làm tiểu đội phó, Lộng lại được phân công ở cùng nhà với tôi-nhà bác Sành ở thôn Văn Giai, xã Chí Minh, huyện Chí Linh (nay là phường Chí Minh, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) nên Lộng luôn coi tôi như người anh của mình. Đầu tháng 2-1971, lớp tân binh chúng tôi được bổ sung cho chiến trường; tôi và Lộng lại cùng được về Khẩu đội 5, Trung đội 2, Đại đội 2 súng máy cao xạ 14,5mm của Tiểu đoàn 16 (Sư đoàn 320) đang tham gia Chiến dịch Đường 9-Nam Lào. Vốn khỏe mạnh, lại hoạt bát nên Lộng nhanh chóng được các cấp chỉ huy tin yêu. Lộng vẫn giữ tình anh em thân thiết với tôi. Sau chiến dịch, đơn vị cơ động từ Nam Lào về Bắc Quảng Trị, phải hành quân đường dài mang vác nặng, tôi vốn là học sinh cấp 3 vừa rời ghế nhà trường tình nguyện vào bộ đội, sức chịu đựng có hạn nên thường rớt lại phía sau. Cứ mỗi lần giải lao mà chưa thấy tôi, Lộng thường quay lại đón và mang đỡ cho tôi. Sau trận phối thuộc với Trung đoàn 52 tiến công đánh chiếm trạm trinh sát điện tử của quân Mỹ trên đồi Động Tri, đầu tháng 6-1971, đơn vị rút ra khu vực Động Nóc thuộc xã Vĩnh Ô (Vĩnh Linh) bên bờ bắc sông Bến Hải củng cố. Ra được vài ngày thì tôi sốt rét nặng, người chỉ còn da bọc xương. Những ngày tôi bị sốt, Lộng luôn ở bên động viên chăm nom, cơm cháo.

leftcenterrightdel
Di ảnh liệt sĩ Lý Văn Lộng.

Cuối tháng 7, đơn vị tiếp tục vào chiến đấu, tôi còn yếu nên đơn vị cho ở lại hậu cứ. Nửa tháng sau, sức khỏe hồi phục, tôi cùng một số anh em vào đơn vị, lúc này đang phối thuộc với Trung đoàn 52 chuẩn bị tiến công căn cứ Ba Hồ. Tôi lại được cùng Lộng chiến đấu, nhưng không ngờ đó là trận đánh cuối cùng của Lộng. Trận địa 14,5mm của trung đội tôi bố trí trên một mỏm đồi đối diện với căn cứ Ba Hồ về phía tây 1,2km, từ trận địa nhìn lên phía đông bắc thấy được đường băng sân bay Tà Cơn dưới thung lũng. Mờ sáng 16-8-1971, sau đòn hỏa lực của ta đánh vào căn cứ địch, các chiến sĩ bộ binh Trung đoàn 52 từ các hướng được lệnh xuất phát tiến công. Khoảng 7 giờ, địch cho một tốp 4 chiếc trực thăng vũ trang UH1D đến bắn đạn 20mm, phóng rốc két xuống đội hình chặn bước tiến của quân ta. Chúng tôi lập tức nổ súng và ngay loạt đạn đầu, một chiếc máy bay địch đã trúng đạn, bốc cháy. Sau khi trận đánh kết thúc thắng lợi, chiều hôm đó, chỉ huy tiểu đoàn chỉ thị cho trung đội phải tổ chức đi lấy mảnh xác chiếc máy bay đã bị bắn rơi để làm hiện vật truyền thống. Lộng liền xung phong vào tổ đi lấy mảnh xác máy bay địch. Khoảng 15 giờ, tổ công tác gồm anh Cường và Lộng (Khẩu đội 5) cùng anh Măng (Khẩu đội 4) xuất phát nhằm hướng máy bay rơi cắt rừng đi tới. Lộng đi rồi, tôi cứ thấy lo lo. Suốt đêm hôm đó, chúng tôi nóng lòng mong chờ các anh và Lộng trong tiếng gầm rú của các loại máy bay địch thay nhau thả pháo sáng, bắn xuống xung quanh căn cứ Ba Hồ yểm trợ cho bọn tàn quân tháo chạy. Sáng sớm hôm sau, khi hai anh Cường và Măng vẻ mặt buồn bã về trận địa, linh tính báo cho chúng tôi có chuyện chẳng lành. Ngay sau đó, chúng tôi đã rõ: Đêm qua, trong lúc cả tổ đang cắt rừng tìm đường đi thì bất chợt một loạt pháo địch bắn trúng đội hình, một mảnh pháo đã phạt bay một góc chóp chiếc mũ cối Lộng đang đội đầu, phạt luôn một góc đỉnh đầu của Lộng! Một tổ 4 người, trong đó có tôi và Lý Văn Thắng ở Khẩu đội 4, lập tức được cử đi đưa Lộng về. Hơn hai giờ sau, chúng tôi mới xuống tới chỗ Lộng hy sinh. Lộng nằm đó, cạnh cây gỗ đổ. Có lẽ các anh đã đi vào vùng có “Cây nhiệt đới” (một loại thiết bị thu tiếng động mà địch thả xuống để phát hiện bộ đội ta từ xa) nên địch mới phát hiện, cho pháo bắn nhanh và chính xác như vậy. Chúng tôi cáng Lộng về trận địa lau rửa bó buộc, rồi tiếp tục đưa Lộng đi dọc theo con suối đá to rộng lên phía bắc về nơi mai táng. Vị trí mai táng là một bãi đất bằng bên phải bờ suối đá đã có 3 mộ đồng đội của đơn vị bạn. Sau khi an táng Lộng, anh Huệ cắm bia lên mộ; anh Thông và Thắng khuân đá suối xếp xung quanh bia mộ, tôi thì đi tìm hái một bó hoa rừng. Xong việc, chúng tôi cắm bó hoa lên mộ Lộng rồi cúi đầu vĩnh biệt người đồng đội hết mực yêu thương…

leftcenterrightdel
Giấy báo tử liệt sĩ Lý Văn Lộng. Ảnh chụp lại

Những ngày cuối tháng 5-2018, tôi có dịp về thăm gia đình Lộng. Vẫn thửa đất rìa cánh đồng làng năm xưa, nhưng bây giờ là ngôi nhà kiên cố gia đình người em kế của Lộng là Lý Văn Đa-một cựu chiến binh từng chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị năm 1973-ở để thờ cúng tổ tiên và liệt sĩ. Trên ban thờ, cùng với di ảnh bố mẹ, tấm ảnh chân dung Lộng đặt trang trọng bên góc trái... Anh Đa cho biết: “Cuối năm 1971, gia đình nhận được giấy báo tử anh Lộng. Có điều, cho đến bây giờ, gia đình vẫn chưa biết anh Lộng nằm ở đâu”.

Nghe anh Đa nói, tôi thật sự bất ngờ và tự thấy mình có lỗi với đồng đội. Sau trận đánh Ba Hồ, đơn vị rút ra Hà Tĩnh củng cố rồi cuối năm 1971 vào chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên cho đến ngày miền Nam giải phóng. Tiếp đó, cuộc chiến tranh biên giới và nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia đã kéo tôi đi hơn 10 năm, sau đó lại cùng đơn vị trở lại Tây Nguyên. Tôi cứ nghĩ Lộng đã yên nghỉ trong nghĩa trang, vậy mà...

Sau khi lựa lời động viên vợ chồng anh Đa, tôi nói: Anh Lộng hy sinh và được an táng ở địa bàn thuộc huyện Hướng Hóa. Ông Nguyễn Ngọc Cư làng tôi, cuối năm 1972 đi dân công hỏa tuyến tại Bắc Quảng Trị nói có thấy mộ Lý Văn Lộng, quê ở thôn Đan Kim, xã Liên Nghĩa cùng một số mộ liệt sĩ khác bên bờ suối gần đường giao liên ở sâu trong vùng giải phóng. Như thế, nhiều khả năng mộ anh Lộng vẫn còn cho tới ngày đất nước thống nhất và đã được quy tập vào một nghĩa trang nào đó... Chia tay vợ chồng anh Đa, tôi thầm cầu mong hương hồn Lý Văn Lộng ở đâu hãy linh thiêng về báo cho gia đình và đồng đội. Cầu mong cho chuyến đi của anh Đa vào Quảng Trị tìm mộ anh trai mình đạt được kết quả như bấy lâu gia đình kỳ vọng.

NGUYỄN HÙNG TẤN