Đại tá Hoàng Lê Nghĩa, nguyên Phó tham mưu trưởng Bộ CHQS thành phố Đà Nẵng, nguyên Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Hòa Vang là một trong số ít cán bộ còn lại của trận Mậu Thân 1968 xúc động khi nhớ về người đồng chí của mình. Anh Phạm Mận dáng dấp to cao, giỏi võ, là con trai duy nhất của bà Hinh (còn gọi là Xã Hinh) ở Trà Lộ, Hòa Hải (nay thuộc quận Ngũ Hành Sơn). Anh từng bị bắt đi lính bảo an và trở thành cơ sở của ta hoạt động trong nội thành suốt 4 năm. Khi phong trào quê hương nổi dậy, anh về tham gia đội công tác khu đông Hòa Vang rồi về Hòa Long làm Xã đội trưởng, sau đó là Chính trị viên Đại đội K36. Vợ anh bị pháo Mỹ bắn chết cháy trong nhà vào tháng 8-1965, trong trận càn đầu tiên. May mà cô con gái mới 3 tuổi cùng mẹ anh thoát được khi đi chơi nhà bên. Phạm Mận lấy người vợ sau tên là Anh, cùng quê. Hạnh phúc chưa bao lâu, năm 1966 khi đang mang thai, chị trúng pháo địch và hy sinh trên đường áp tải thương binh lên Đại Lộc.

Đau thương chồng chất không quật ngã ý chí của người lính Khu 3. Được giao chỉ huy Đại đội K36 gồm 35 đồng chí phối hợp cùng 57 chiến sĩ Tiểu đoàn R20 đánh vào Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 ngụy trong Tết Mậu Thân 1968, Phạm Mận cùng đồng chí Châu Quang Trung, Đại đội trưởng hứa với lãnh đạo Khu 3 sẽ quyết tử để Tổ quốc quyết sinh.

Khoảng 5 giờ chiều, bộ đội xuất phát từ vùng 6 Hòa Hải. Vũ khí mang theo lúc đó là B40, B41, AK báng xếp, lựu đạn, thủ pháo, súng ngắn, vượt sông Cổ Cò, tiếp tục qua Trung Lương, Đò Xu bằng ghe thuyền của nhân dân rồi men theo sông Hàn tiếp cận sát đầu cầu Trịnh Minh Thế (nay là cầu Trần Thị Lý). Vốn rành đường sá Đà Nẵng từ khi còn là lính bảo an, phút hội ý dưới chân cầu trước khi tấn công, anh Mận bàn bạc với các đồng chí R20 phân công vị trí từng mũi xuất trận. Đúng 0 giờ Mồng Một Tết Mậu Thân, pháo binh ta từ Hòa Phong bắn vào sân bay yểm trợ lực lượng nội thành cũng là lúc giờ G của các chiến sĩ K36 bắt đầu.

leftcenterrightdel
Con gái liệt sĩ Phạm Mận thắp hương bên di ảnh cha.

Đ.K (mật hiệu) - tiếng anh Mận vừa dứt, lập tức cả trung đội vượt lên bức tường 2m ken dày mảnh chai. Vốn to cao, anh Mận khom xuống dùng vai mình làm điểm tựa bảo đồng đội nhảy qua. Đến lượt anh cũng dùng thế võ để phi vào, hỏa lực của ta bắn tới tấp vào lô cốt địch. Bọn lính cố thủ khiếp sợ đầu hàng. Sau 20 phút chiến đấu, ta hầu như làm chủ toàn bộ phía sau khu doanh trại Quân đoàn 1. Đến 5 giờ sáng Mồng Một Tết Mậu Thân, tất cả được lệnh rút về khu gia binh Hòa Cường. Phương án tác chiến thay đổi do phải lùi lại một ngày nhằm phối hợp tổng tiến công toàn miền Nam. Yếu tố bất ngờ không còn, biết lực lượng của ta mỏng, địch tập trung lực lượng đông đảo. 7 giờ sáng, lệnh từ tiền phương mặt trận là tự mở đường máu để rút lui. Địch đã bao vây tứ phía. Xe tăng, máy bay nã đạn ầm ào. Các chiến sĩ của R20 và K36 lần lượt hy sinh. Anh Phạm Mận cùng các đồng chí còn lại dựa vào các bệ cửa của khu gia binh chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, rồi anh bị trúng một loạt đạn địch bắn tới...

Ông Huỳnh Ngọc Kim, nguyên mũi trưởng của Đại đội K36 ngày trước bồi hồi: Anh Mận bụng bị nát, hơi thở yếu ớt vẫn lấy hết sức nói: “Kim ơi, Đảng ơi (cán bộ trung đội-NV), nếu hai đồng chí về lại Hòa Hải hãy báo với tổ chức là anh Phạm Mận đã hoàn thành nhiệm vụ trên giao”. Lúc đó, tôi chỉ kịp nắm tay người chỉ huy của mình và an ủi: “Anh yên tâm. Chốc nữa sẽ có xe đưa anh vào bệnh viện”. Nhưng rồi anh Mận đã hy sinh ngay sau đó. Tôi cứ suy nghĩ mãi vì sao anh Mận lại nói câu ấy. Sau này mới biết là do cuộc đời anh có nhiều bước ngoặt. Giải phóng thành phố 3 năm, tôi vẫn không thôi nhớ anh Mận. Có ai đó chỉ bảo, người em và con gái của anh ấy đã đến nhờ tôi xác minh. Do anh đi lính bảo an rồi thoát ly, về làm xã đội trưởng Hòa Long nên ở xã Hòa Hải nhiều người chưa kịp biết. Tôi nhớ đến những giây phút lẫm liệt của anh Xuân Mậu Thân ấy và báo cáo với công an tỉnh, sau đó anh đã được công nhận là liệt sĩ.

Con gái của Chính trị viên Phạm Mận - bà Phạm Thị Lan nghẹn ngào: “3 tuổi thì tôi mất mẹ, 6 tuổi thì mất cha, sống với bà nội rau cháo qua ngày. Nhà không còn, bà cháu ra Đà Nẵng ở nhờ bà con. Người cô ruột vào Sài Gòn làm ăn, thời gian sau biết tình cảnh ấy đã về lại làm nhà và đón bà cháu đến ở cùng. Đau buồn nhất là cả mẹ và cha đều không ai có mộ. Nghe nói sau khi cha tôi và các đồng chí của ông hy sinh, bọn địch đã cho khiêng xác xếp thành một dãy dài ở mảnh đất chân cầu Trịnh Minh Thế, rồi chở đi lấp ở Hòa Khánh, số khác đưa tàu chở ra vùi ở Cồn Dầu, Trung Lương”.

Bà Phạm Thị Lan luôn tự hào cha mình đã cùng nhân dân thành phố làm cho kẻ địch khiếp sợ, góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

 

Bài và ảnh: HỒNG VÂN