Trong lớp văn Trường Đại học Tổng hợp của chúng tôi hồi ấy, Hồng là người học giỏi, sôi nổi, tham gia nhiều việc của lớp, của khoa. Những năm đó, cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đang bước vào giai đoạn gian khổ, ác liệt nhất. Không đợt tuyển quân nào ở trường vắng mặt Hồng. Nhưng mãi năm 1970, anh và một số sinh viên Khoa Ngữ văn mới vào chiến trường. Chưa đầy một tháng công tác ở Ban Tuyên giáo Khu ủy 5, tôi, Nguyễn Hồng và Vũ Thị Hồng tình nguyện sang Cục Chính trị quân khu.

leftcenterrightdel
Minh họa: QUANG CƯỜNG 
Ban Văn học chúng tôi hồi đó gần như chỉ có hai nhiệm vụ: Khi ở hậu cứ thì tranh thủ sản xuất, trồng lúa, trồng sắn; chiến dịch nổ ra, mỗi người một hướng, bám các đơn vị trên địa bàn quân khu đi chiến đấu. Có những người nghĩ rằng, là phóng viên mặt trận ít nguy hiểm hơn trực tiếp cầm súng đối mặt với kẻ thù. Riêng Ban Văn học của chúng tôi không hoàn toàn như vậy. Những nhà văn gạo cội của ban từng làm bí thư chi bộ ở xã vùng sâu. Có người nằm suốt tháng ở khu dồn dân của địch để nắm tình hình. Còn đến đơn vị là xuống với đại đội hoặc tiểu đoàn. Các thủ trưởng còn khuyên: Trường hợp bị địch vây thì tự sát, không để chúng bắt sống. Chuyến công tác đầu tiên Hồng đi với đặc công Quảng Ngãi. Hồng kể: “Dưới đơn vị quan niệm về cách đi thực tế của chúng ta không ổn. Họ không muốn bọn mình tham gia các trận đánh. Ức không chịu được, mình cáu với ban chỉ huy tiểu đoàn:

- Các anh tưởng chúng tôi không phải là bộ đội chắc?

Tiểu đoàn trưởng bảo:

- Anh là nhà báo, làm sao trườn bò, làm sao cắt rào, chui rào gỡ mìn…

- Xì, các anh làm được, chúng tôi cũng làm được, không biết thì học, không biết cứ làm theo các anh, có gì đâu.

- Nhưng nhỡ... Bom đạn có trừ ai đâu. Lúc đó ai nhận kỷ luật với cấp trên hộ đây?

- Trời ơi! Đã vào đến chiến trường còn sợ nhỡ, mà có ngã xuống cùng các anh vẫn hay hơn chết một mình vì sợ.

Ấy thế là họ đành cho mình vào trận. Cũng bôi lọ nghệ, cũng rà rẩm dò mìn, gỡ mìn. Không đi đầu, không đi cuối. Mới đi đánh nhau lần đầu, nằm khúc giữa dễ xoay xở hơn. Buồn là phía trên vừa cắt được mấy lớp rào đã lộ toẹt. Đạn bắn ra mù mịt. Thôi không còn biết thế nào nữa. Cắm mặt xuống đất… ngẩng lên… quái, nhìn trước nhìn sau không còn ai. Thế là cuống. Ra thì không thể. Mình là anh cán bộ quân khu xuống đơn vị nằng nặc đòi đi với họ, rồi viết bài động viên họ chiến đấu nữa, gặp khó khăn, nguy hiểm lại “chuồn” còn ra cái thể thống gì? Thế là bò tới. Bò mãi. Té ra bò vào cũng không phải, bò ra cũng không phải nốt. Lạc hướng. Đâm đầu vào một cái nhà hầm. Té ra là cái trạm phẫu đón thương binh nặng của tiểu đoàn…”.

Hồng cười phớ lớ:

- Đấy, thế thì còn viết cái nỗi gì? Chuyến đi này coi như bại.

Đúng là khó viết. Nhưng nghe Hồng kể, chúng tôi không khỏi áy náy. Tôi khuyên Hồng:

- Viết hay không sẽ bàn sau, nhưng đi thực tế mà rúc rào như Hồng là hơi quá đáng.

Hồng buồn bã:

- Xuống đơn vị mà không được đánh đấm như bộ đội thì ở quách quân khu bộ còn hơn.

Tôi yên lặng, bồn chồn, lo cho bạn. Biết rằng có nói nữa cũng vô ích, Hồng là vậy.

Lần đó, gần cuối năm 1973. Tôi và Nguyễn Hồng được phân công đi cùng một chiến trường: Quảng Nam, Quảng Đà. Nguyễn Hồng đi Điện Bàn, tôi đi Hòa Vang. Trước khi đi, Hồng có bút ký rất “bảnh”: “Đêm cao điểm”-bút ký ngồn ngộn những tư liệu sống động về người lính, về kẻ thù, về những gì diễn ra trong một trận đánh khốc liệt. Hồng cặm cụi viết, quên ngày quên đêm. Bài viết được mọi người trong ban ngưỡng mộ, tin tưởng, quý trọng. Chưa phải thật “sành điệu”, nhưng đã nhìn thấy rõ một ngòi bút đang chiếm lĩnh trận địa văn chương, đầy hứa hẹn. Sáng tác này được in ở Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ, sau đó được đăng trên Văn nghệ Quân đội và được tặng thưởng văn xuôi xuất sắc trong năm. “Đêm cao điểm” còn được in tuyển ở rất nhiều tập sách của các nhà xuất bản. Nhưng Hồng đã không kịp hay biết gì ngoài cái bản thảo được kỳ cạch đánh máy cẩn thận gửi ban biên tập. Trước khi đi chiến dịch, Hồng được kết nạp Đảng. Vào chiến trường mới chỉ là những đoàn viên, chỉ vài năm đầu ở Ban Văn học, chúng tôi đã lần lượt được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Ở Hòa Vang, tôi nhận được hai bức thư của Hồng. Bức thư đầu hơi buồn. Hồng nói về sự phản bội Hiệp định Pa-ri của địch và sự quá ư thật thà của bộ đội ta, khiến tình hình chiến sự đang xấu đi, bất lợi cho ta. Nội dung này cũng được Hồng viết và gửi cho chỉ huy huyện đội, tỉnh đội, khẩn khoản đề nghị cấp trên có sự chỉ đạo cho bộ đội. Bức thư thứ hai, Hồng nhắc tôi ngày về quân khu, hẹn gặp nhau ở Tỉnh đội Quảng Đà. Là thế, làm sao tôi có thể tin chuyện không may đã đến với Hồng. Nhưng chiến tranh là vậy. Trong những ngày chờ về quân khu, Hồng mượn được khẩu AK và xin đi với đại đội Điện Bàn đang giữ đất cắm cờ ở Điện Xuân. 

Mờ sáng 3-12-1973, từ một khu đất cạnh nơi đóng quân, địch nổ súng tấn công. Ban chỉ huy đại đội bàn nhau: Đánh địch giữ đất hay là rút? Đại đội trưởng băn khoăn: “Địch vi phạm lệnh ngừng bắn, còn ta thì sao?”. Hồng nói: “Còn phải vân vi gì nữa. Tôi từ quân khu xuống. Không ai nói rằng địch nổ súng thì ta lặng yên hay rút lui. Mỗi tấc đất ở đây đều đổi bằng rất nhiều xương máu của bộ đội, nhân dân. Không thể để chúng lừa đảo chiếm đoạt”. Chính trị viên đại đội nói: “Chúng đông quá, ta ít người, thà rút, bảo toàn lực lượng”. Hồng quả quyết: “Tôi sẽ ở lại chặn địch. Bọn chúng chỉ có thể bước qua xác tôi mới đến được đây”... Đại đội rút về phía bờ sông Thu Bồn. Hồng ở lại với khẩu AK và hai băng đạn. Những cán bộ, chiến sĩ lui về phía bờ sông nghe rõ từng phát bắn đĩnh đạc của Hồng. Sau đó là tiếng AR15 điên loạn của địch. Hồng hy sinh như thế nào? Không ai biết. Rất nhiều tin đồn khác nhau. Nhưng thực sự bên ta không có ai ở đó để kể lại cụ thể. Sau giải phóng, tôi và nhà văn Nguyễn Bá Thâm xuống ngay vùng chiến sự đã xảy ra cuộc đụng độ không cân sức giữa Hồng với địch. Anh Chính, người từng có mặt ở đại đội Điện Bàn dẫn chúng tôi tới mấy bụi chuối mà Hồng ẩn nấp để diệt địch. Nhưng bụi chuối không còn. Không còn gì hết ngoài một vùng mênh mông, trắng băng. Địch đã cày đi ủi lại nơi đây không biết bao lần.

Mùa xuân năm ấy, Cục Chính trị quân khu làm lễ tưởng niệm và trao tặng Huân chương Chiến công cho Hồng. Đúng ra, Hồng không chỉ nhận Huân chương Chiến công mà phải được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Bởi lẽ, đấy là một anh hùng thực thụ. Người anh hùng ấy còn sống, hẳn sẽ là một nhà văn tầm cỡ, có những sáng tác để đời. Anh ngã xuống khi mới 23 tuổi. Đất Quảng Nam trung dũng, kiên cường hẳn sẽ bừng sáng trong những tác phẩm tâm huyết của anh. Thương tiếc Hồng biết bao nhiêu! Nơi anh nằm lại hôm nào nay là cánh đồng lúa trĩu vàng, là trường học, bệnh viện… Con suối mà địch đã lấp bằng nay lại được khai thông và dòng nước mát rười rượi dào dạt mang hơi thở nồng ấm thanh khiết của Hồng. Nơi đây cũng đang sinh sôi nảy nở nhiều hoa thơm trái ngọt. Một số đồng nghiệp đã cùng chính quyền địa phương xây một khu tưởng niệm về Hồng, chưa phải thật hoành tráng nhưng có một dáng dấp riêng, dáng dấp của một người cầm bút ra trận.

Nhà văn NGUYỄN BẢO