Ông kể: “Hồi đó, để tiện hoạt động, tôi lấy tên tiếng Lào là Bua Phăn và có nhiều kỷ niệm lắm. Nhớ nhất là lần được hòa thượng A Chan Khăm Đeng (pháp danh A Chan Ma Hả), trụ trì chùa Thà Teng đùm bọc, giúp đỡ trong lúc tôi và đồng đội đang cận kề cái chết”.

Tết Mậu Thân 1968, quân đội Lào đánh thắng nhiều trận khiến địch bị bất ngờ và sa sút ý chí chiến đấu. Địch ở các đồn Noõng Tẹ, Đon Tà Lạt, U Thum, Mường Mun… đều tan rã, bỏ chạy. Nhưng sau đó, chúng huy động lực lượng từ Pạc Sê tràn xuống, từ U Bôn (Thái Lan) tràn sang chia thành hai gọng kìm để lấy lại trận địa. Chúng nã pháo đi trước, lính bộ theo sau, phản kích lại rất ác liệt. Ta phải dạt vào rừng sâu, cơ sở bị lộ, nhiều cán bộ bị bắt bớ, tàn sát, tổn hại nhiều về lực lượng. Tình hình rất khó khăn. Một số kẻ đầu hàng địch đã khai báo nhiều cơ sở của ta. Địch lùng sục, ông Hoàng Hoa Hùng phải dạt xuống vùng Mương Kang-Kà Tứp. Địch huy động hai tiểu đoàn đi càn, có máy bay trực thăng quần thảo gọi đầu hàng...

leftcenterrightdel
Ông Hoàng Hoa Hùng. Ảnh: VÂN CƯỜNG.

Tình thế nguy cấp nên ông Hùng và người bảo vệ chạy xuống làng Thà Teng, tổng Noong Phẩm, huyện Pa Sắc thì lạc nhau. Ông Hùng nhớ lại: “Tôi chạy vào làng, đuối sức quá, mệt lả, quần áo ướt sũng, lao vào nhà của chị Khun mượn áo của anh chồng thay. Sau đó, tôi chạy tới chùa Thà Teng, nhảy qua bờ rào để vào chùa lánh nạn. Lúc đó, sư trụ trì A Chan Khăm Đeng thấy và vồn vã nói: “A! Bua Phăn, máy bay nó phát loa, gọi anh đầu hàng! Nhanh vào đây!”. Sư trụ trì cởi áo cà sa quàng cho tôi và đưa tôi vào Xỉm (nơi thờ Phật). Ông bảo: “Anh đừng câu nệ gì, đứng lên vai tôi rồi chui lên lỗ thông trần, trườn vào trần của Xỉm chùa mà ẩn nấp, khi nào an toàn tôi sẽ ra hiệu”.

Nằm trên Xỉm bụng đói, nghe tiếng tụng kinh ở dưới của sư và bên nhà Hủa Chẹc (kiểu như hội trường) của bà con phật tử lẫn với tiếng la hét, lùng sục của địch, mệt quá, ông Hùng ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Thức dậy, không khí trên trần đã nóng nực, ngột ngạt. Đói, khát, ông lại lịm đi...

Địch rút, sư A Chan Khăm Đeng mới thông báo cho sư sãi biết có anh Bua Phăn đang ở trên trần nhà Xỉm. Hòa thượng cho người trèo lên đưa ông xuống. Hai nhà sư dùng “khăn tu” buộc vào thắt lưng Bua Phăn thả ông qua lỗ thông trần. Ở dưới mấy người kê bàn cao đỡ, khiêng ra ghế xi măng ở gốc xoài giữa sân chùa, rồi xúm vào cấp cứu. Sư A Chan Khăm Đeng hô: “Soi đèn pin, trèo chặt mấy quả dừa non xuống để cứu Bua Phăn”. Việc cấp cứu diễn ra khẩn trương, người thì xoa bóp, người bón nước dừa… Còn các sư và phật tử khác thì trải chiếu, đem bàn, nhang, nến đặt gần nơi ông Hùng nằm, ngồi tụng kinh cầu an cho Bua Phăn tai qua nạn khỏi.

Rất lâu sau, ông Hùng cố mở mắt thấy chập chờn xung quanh là các vị sư sãi. Ánh sáng đèn măng xông chói lòa. Có tiếng thì thào: “A, anh Bua Phăn tỉnh lại rồi A Chan ơi!”. Tiếng nhỏ nhẹ bên tai: “Tôi đây, Khăm Đeng đây, đồng chí của anh đây! Anh chịu khó nhấm nháp nước dừa nhé! Tôi đã tiêm thuốc cho anh rồi! Lát nữa sẽ uống vài thìa sữa, vài thìa thôi! Chờ sức phục hồi dần”.

Nhờ được chăm sóc tận tình mà hơn một giờ sáng hôm sau ông Hùng đã lấy lại sức. Ông đề nghị rời đi để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ và tránh liên lụy cho nhà chùa. Mọi người đều can ngăn và giữ ông lại vì mọi sư sãi đều biết và rất thương ông. Hòa thượng A Chan Khăm Đeng, hòa thượng A Chan Khu Kẹo Sỷ, sư thầy Bun Mi đã được kết nạp vào Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Xúc động nhớ lại tình cảm và tấm lòng của sư trụ trì, nước mắt ông trực trào nơi khóe mắt. Ông kể: “Khi vừa chui lên trần, một tràng tiểu liên nổ, tiếp theo là tiếng léo xéo của lính địch kéo nhau vào chùa. Tôi lặng thinh, trời cũng sẩm tối, cảm thấy ấm lòng vì may mắn được gặp A Chan. Trước khi đi, sư thầy Bun Mi còn tiêm cho tôi thêm vài mũi thuốc trợ sức, đưa cho một lọ B1 và một hộp sữa đục sẵn để đi đường”.

BIỆN VĂN CƯỜNG