Đó là thời gian đất nước còn chiến tranh, thậm chí chiến tranh nối tiếp chiến tranh, từ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến chiến tranh biên giới Tây Nam, giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, rồi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Một nền hòa bình vừa lập lại với vô số khó khăn, phức tạp của thời hậu chiến. Nhưng chính trong tình hình đó, báo chí cách mạng Việt Nam đã luôn có mặt và đóng góp rất nhiều cho đất nước và nhân dân. Dĩ nhiên trong thành công của các phóng viên, biên tập viên có sự chỉ đạo với tầm nhìn rộng, nhạy bén, sát sao, sâu sắc, kịp thời, với bầu nhiệt huyết của nhiều vị lãnh đạo các tờ báo, chính là nhân tố quan trọng hàng đầu. Với tôi, vị lãnh đạo mang đủ các phẩm chất trên đây chính là Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân của chúng tôi, lúc bấy giờ mang quân hàm Đại tá: Nguyễn Đình Ước.

leftcenterrightdel
Trung tướng, nhà báo Nguyễn Đình Ước (năm 2008). Ảnh tư liệu.

Viết về nhà báo Nguyễn Đình Ước thì có rất nhiều chuyện hay, xin được kể ngay một vài kỷ niệm mà tôi rất khó quên về tầm nhìn và nhiệt huyết của ông. Dù không cần biết Tổng biên tập có trực tiếp viết nhiều bài báo hay không, tôi vẫn phải gọi ông là một nhà báo lão luyện, một nhà báo lớn!

Kỷ niệm đầu tiên là đầu năm 1975, khi Chiến dịch Phước Long vừa nổ ra, tình hình thực ra chưa có tín hiệu gì đặc biệt, thì Tổng biên tập đã gọi 9 anh em phóng viên chúng tôi lên gặp và giao nhiệm vụ đi vào chiến trường miền Nam để phản ánh chiến cục sắp diễn ra. Dĩ nhiên, với lợi thế là Tổng biên tập tờ báo-cơ quan của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, ông Nguyễn Đình Ước có thể đã nắm bắt chút ít thông tin về chủ trương của cấp trên, nhưng chắc với yêu cầu tuyệt mật của quân sự, tất cả chỉ có thể biết hạn chế thôi. Nhưng thế cũng đủ để vị lãnh đạo này tung ngay một lực lượng rất hùng hậu các phóng viên, trong đó gồm nhiều cây bút rất có năng lực và kinh nghiệm như các anh Cao Tiến Lê, Trần Hữu Tòng, Hà Đình Cẩn, Tô Vân, Tô Phương, Thiều Quang Biên và hai phóng viên ảnh dày dạn là Vũ Đạt và Trọng Lượng. Tôi cũng may mắn được có mặt trong số mà Tổng biên tập chọn cho đi.

Vâng, phải nói là “cho đi”, vì dù gian khổ và hiểm nguy đến đâu, làm phóng viên quân đội thời chiến được ra chiến trường là sung sướng vô cùng. Hãy hình dung, với tình hình sôi động của chiến dịch long trời lở đất và đại thắng cuối cùng của mùa xuân năm ấy, nếu không được có mặt thì thật tiếc đến nhường nào. Huống chi Tổng biên tập lại phát lệnh lên đường cho chúng tôi từ rất sớm, vào ngày 22-1-1975, trước ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam đến 3 tháng 8 ngày. Một tầm nhìn quá xa, một thời gian đủ dài để chúng tôi kịp có mặt, đi theo bộ đội suốt chiến dịch cho đến ngày 30-4-1975. Còn nhớ, 9 anh em chúng tôi được chia thành 3 nhóm: Một nhóm vào miền Tây Nam Bộ, một nhóm vào miền Đông Nam Bộ và chúng tôi (gồm tôi, Trần Hữu Tòng và Hà Đình Cẩn) thì vào cực Nam Trung Bộ (tức là Quân khu 6 bấy giờ). Tổng biên tập Nguyễn Đình Ước nói rất kỹ về tình hình chiến trường, những việc chúng tôi cần làm và thậm chí, tôi nhớ ông còn dặn dò chúng tôi cả những chi tiết nhỏ như cách đối phó với những gì có thể xảy ra ở chiến trường vẫn đang nóng bỏng. Ông còn đề phòng tình huống nếu có đơn vị nào ở địa phương trong ấy xin, thậm chí muốn giữ chúng tôi ở lại phục vụ cho đơn vị lâu dài thì làm cách nào để… từ chối. Thật là sự tính toán kỹ lưỡng và thấu tình đạt lý khiến chúng tôi rất cảm động! Trước hôm lên đường, tôi bị sốt do viêm đường hô hấp. Lúc tôi đã leo lên thùng xe đỗ ở sân tòa soạn rồi, Tổng biên tập còn nói với lên: “Anh Ngọc nếu vào đến Quảng Bình mà vẫn ốm thì quay về nhé!”.

Tất cả chúng tôi đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Có thể nói, trong Chiến cục mùa Xuân 1975, Báo Quân đội nhân dân đã góp một lực lượng phóng viên đông đảo, đưa tin bài, ảnh… theo kịp mỗi bước đi của chiến dịch, mang đến cho toàn quân, toàn dân ta những thông tin phong phú, náo nức không thể quên. Đó là sự cố gắng của tất cả anh em phóng viên, nhưng trước hết đó là nhờ có sự chỉ đạo ra quân rất sớm, rất đúng lúc, sự chuẩn bị lực lượng hoàn hảo của các vị lãnh đạo và Tổng biên tập Nguyễn Đình Ước.

Riêng tôi, với “máu mê” làm báo, háo hức với tình hình chiến cuộc, tôi đã chủ động bám theo bộ đội, từ đánh một ấp, một quận lỵ, đến giải phóng thị xã Phan Thiết, và tiếp đó, cùng anh Hà Đình Cẩn theo bộ đội tiến thẳng vào phía Nam để kịp có mặt ở Sài Gòn những giờ phút đầu tiên vừa giải phóng. Ngay sau đó, tôi và phóng viên Nguyễn Mạnh Hùng còn chủ động phóng xe máy xuống Vũng Tàu, theo hải quân ra Côn Đảo… Ngoài việc hai chúng tôi viết chung bài ký về Côn Đảo giải phóng, tôi còn viết bài ký dài về cuộc trò chuyện với người tù lừng danh Lê Quang Vịnh (sau này là Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ). Tôi còn chép cả bài hát và bài thơ anh Vịnh sáng tác rồi tìm cách gửi ngay về tòa soạn để báo kịp thời cho lên trang sau giải phóng Sài Gòn chỉ mấy ngày… Có thể tổng kết chiến dịch ra quân năm 1975 ấy, Tổng biên tập Nguyễn Đình Ước đã vừa là người tổ chức, chỉ dẫn thực hiện và cuối cùng, động viên khen chê đâu ra đấy, thật y như một vị chỉ huy quân sự của một chiến dịch vậy.

Kỷ niệm thứ hai của tôi với nhà báo Nguyễn Đình Ước là ngay năm 1976, sau một thời gian quân đội và nhân dân ta bỏ công sức hoàn thành tái thiết con đường sắt thống nhất sau bao năm bị bỏ hoang vì chiến tranh, một biểu hiện về sự thống nhất đất nước, ngày 31-12-1976, cấp trên tổ chức một chuyến tàu hỏa Bắc-Nam đầu tiên để khánh thành đường sắt thống nhất. May mắn thay, tôi lại được Tổng biên tập và lãnh đạo báo cử đi tham dự sự kiện này. Một chuyến đi cũng kỳ thú và có ích hiếm có. Khi về, tôi đã viết một bài ký dài, in nhiều kỳ trên báo, một bài viết mà tôi rất ưng ý. Trong buổi giao ban báo sau đó, Tổng biên tập Nguyễn Đình Ước đánh giá từng chi tiết bài viết rất chi ly. Đọng lại trong ký ức anh em làm báo Báo Quân đội nhân dân hồi đó là hình ảnh khó quên của Tổng biên tập Nguyễn Đình Ước trong các cuộc giao ban báo thường kỳ. Đó là những cuộc giao ban vô cùng thú vị của nhà báo có tài cầm quân này. Ông đã biến tất cả mọi cuộc giao ban thành những buổi trò chuyện của một diễn giả tài năng, vừa chi tiết, cụ thể, vừa khái quát rộng lớn, vừa liên hệ chuyện cũ, vừa bàn chuyện hiện tại, vừa mở ra hướng tương lai, từ gần đến xa. Nói đến đâu, ông dẫn chứng đến đấy, khen ra khen, chê ra chê, lúc nhỏ nhẹ, lúc bốc lên như lửa… Đúng là một người nói chuyện về báo chí hiếm có. Đến mấy lão làng trong làng văn, làng báo cũng mến phục “cụ Ước”.

ANH NGỌC