Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học, chàng trai Hoàng Xuân Nhị đã vượt lên hoàn cảnh gia đình nghèo khó, trở thành một cậu tú cừ khôi, tốt nghiệp xuất sắc của Trường Trung học Albert Sarraut rồi vào học thẳng trường luật. Chỉ sau một năm, ông được chọn là một trong hai sinh viên đi du học bằng học bổng đặc biệt của triều đình Huế. Điểm tổng kết của ông cao hơn, nhưng ông chỉ là con thường dân, còn chàng sinh viên thứ hai kém điểm ông chút ít nhưng lại là con quan. Đứng trước nguy cơ bị loại bỏ, thầy Nhị vội chạy lên gặp hiệu trưởng, bày “mẹo”: Để khỏi lãng phí nhân tài, trường có thể cho cả hai chúng em đi, dùng chung một suất học bổng. Mỗi người nửa suất. Em thiếu tiền thì em càng có động cơ nỗ lực học tập... Hiệu trưởng nhà trường rất băn khoăn nhưng rồi cũng chấp nhận phương án đó. Chấp nhận một phần cũng vì ông hiệu trưởng lo xa, muốn tránh sự khiếu nại, kiện tụng rầy rà từ chàng sinh viên thông minh, ranh mãnh đang ngồi trước mặt.

Sang Pháp, để có thêm tiền ăn ở, sinh hoạt hằng tháng, Hoàng Xuân Nhị “đi làm thêm” bằng cách ngồi lì trong các thư viện dịch sách lấy nhuận bút. Đó là các truyện thơ Nôm: “Lưu Bình-Dương Lễ”, “Tống Trân-Cúc Hoa”, các tác phẩm ngâm khúc như: “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn và “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Các tác phẩm văn học Việt Nam dịch sang tiếng Pháp của ông được các nhà xuất bản Mercure de France và Stock xuất bản. Đặc biệt, tác phẩm “Chinh phụ ngâm” bằng tiếng Pháp xuất bản được độc giả và giới phê bình Pháp thời bấy giờ đánh giá cao, đã được tái bản nhiều lần. Ông vô tình trở thành người xuất khẩu văn học Việt Nam sang Pháp. Ông có 3 cuốn sách liên tục được các nhà xuất bản Mercure de France và Stock in, phát hành. Sức học và sức viết của ông cũng không chênh lệch. Trong vòng 4 năm, từ 1935-1939, tại Đại học Sorbonne, ông đã thi, nhận 3 bằng cử nhân: Triết học, giáo dục học, văn chương và cao học triết học, đồng thời tốt nghiệp chuyên ngành Hán Văn tại Viện Ngôn ngữ và Văn minh Phương Đông (Paris).

leftcenterrightdel
Giáo sư Hoàng Xuân Nhị. 

Năm 1942, Hoàng Xuân Nhị sang Đức học tập và làm việc tại Trường Đại học Tổng hợp Berlin. Năm 1945, ông trở lại Pháp sau khi Hồng quân Liên Xô chiến thắng phát xít Đức. Bước sang năm 1946, một sự kiện lịch sử quan trọng chuyển hướng đời ông. Đó là Hội nghị Fontainebleau, nơi lần đầu tiên ông được tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau mấy tuần tham gia phục vụ hội nghị, cùng nhiều trí thức trẻ khác, ông đã quyết định theo lời khuyên trực tiếp của Bác Hồ, rời Paris về nước tham gia kháng chiến.

Chuyến tàu viễn dương không cập bến Hải Phòng cho ông tìm đường lên chiến khu gặp Bác mà đã đổi hướng, vào bến Nhà Rồng. Không ra Bắc nữa, từ Sài Gòn, ông lên thẳng

bưng biền, gia nhập Đảng trở thành Ủy viên Ủy ban Hành chính-Kháng chiến Nam Bộ, phụ trách văn hóa giáo dục; làm Tổng biên tập tờ La Voix Du Maquis (Tiếng nói kháng chiến)-tờ báo ngoại ngữ đầu tiên ở chiến khu cách mạng. Cũng ngay trong năm đó, ông trở thành chỉ huy trưởng của binh đoàn quốc tế, gồm các binh sĩ nói tiếng Pháp, tiếng Đức... bỏ hàng ngũ địch sang gia nhập quân đội kháng chiến Việt Nam.  Để tận dụng tri thức khoa học và kinh nghiệm sư phạm của ông, Chính phủ kháng chiến điều động ông sang làm người đứng đầu Viện Văn hóa kháng chiến kiêm Giám đốc Nha Giáo dục Nam Bộ. Dưới sự dẫn dắt, tổ chức và điều hành khéo léo của ông, 3 trường nội trú kháng chiến và 70 trường tiểu học, trung học đã được thành lập, đào tạo được khoảng 10.000 học viên, cán bộ cho kháng chiến.

Hòa bình lập lại năm 1954, ông đưa vợ con tập kết ra Bắc, tạm gửi lại người con gái đầu lòng đang bị ốm, hy vọng đi chuyến tàu sau, hoặc gia đình sẽ trở lại dịp tổng tuyển cử hai năm sau đó. Thấm nhuần lời kêu gọi thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn với nỗi lo lắng, nhớ thương người con gái bị mắc kẹt ở miền Nam, ông đã cống hiến hết sức mình cho sự thắng lợi của cách mạng. Hoàng Xuân Nhị trở thành một trong những giáo sư đại học đầu tiên nhận học hàm của Nhà nước. Vốn là người yêu khoa học xã hội và nhân văn, ông luôn cảm thấy mình không có năng lực quản lý, không thích hợp làm cán bộ lãnh đạo nên nhiều lần từ chối bổ nhiệm.

Chức vụ cao nhất mà ông miễn cưỡng phải nhận là Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông nhận nhiệm vụ trong tình trạng khủng hoảng nhân sự khi Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trở thành điểm nóng của đấu tranh tư tưởng và học thuật chính trị. Hơn nữa, ông là một giáo sư uyên bác, biết nhiều ngoại ngữ và đặc biệt, ông là một “cựu chiến binh” có tình cảm kính yêu sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông trở thành người “khai sơn phá thạch” cho nhiều chuyên ngành và bộ môn Ngữ văn. Sau khi xây dựng hướng nghiên cứu, khung chương trình đào tạo và bồi dưỡng xong đội ngũ cán bộ giảng dạy cho một chuyên ngành, ông lại chuyển sang xây dựng hoặc phát triển bộ môn mới.

Tính đến khi nghỉ hưu, ông đã viết 7 bộ giáo trình với 2.400 trang, dịch 3.800 trang xuất bản trong và ngoài nước, không tính tới những cuốn sách viết đồng tác giả. Ông thường tự trào rằng mình là “chủ nhiệm khoa lâu nhất thế giới” vì suốt 20 năm, ông có “nghệ thuật làm chủ nhiệm”. Ông thường nói đùa: Nghệ thuật làm chủ nhiệm khoa của mình là nghệ thuật “không làm gì cả”. Mọi người trong cơ quan đều biết, ông đã “lãnh đạo” theo cách riêng của mình, tức là luôn khích lệ, động viên cấp phó của mình phát huy sáng kiến, chủ động quyết định mọi việc thay mình.

Suốt 20 năm làm chủ nhiệm khoa, ông đã chọn đúng các phó chủ nhiệm, những người luôn đoán đúng ý chủ nhiệm mà làm rồi “báo cáo sau”. Ông luôn nhắc nhở các phó chủ nhiệm của mình là giảm đến mức thấp nhất những hình thức nghi lễ, hội họp; tập trung thời gian, sức khỏe cho chuyên môn, vì lý do tồn tại của nhà trường là dạy và học. Trong những năm chiến tranh, Hà Nội phải sơ tán, thầy trò phải dạy và học trong hoàn cảnh thiếu thốn, kham khổ. Chủ nhiệm khoa Hoàng Xuân Nhị đã có lời khuyên rất chí lý: “Ban đêm, khi nào chưa viết, cần nghĩ, các đồng chí vặn đèn nhỏ lại; nghĩ xong, bắt đầu viết thì hẵng vặn to cho sáng lên. Khi ngọn đèn nhỏ chỉ bằng hạt đỗ xanh, ta suy nghĩ, tư duy trong bóng tối sẽ tập trung hơn, sâu sắc hơn. Như thế làm việc hiệu quả, mà lại tiết kiệm dầu”.

leftcenterrightdel

Giáo sư Hoàng Xuân Nhị và con trai, Tiến sĩ Hoàng Xuân Quốc tại Versailles (Pháp), năm 1988. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp 

Vào những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhận thấy tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh đang từng ngày chiếm lĩnh đời sống tinh thần dân tộc, hình ảnh Bác trong đời cũng như trong thơ Người hiện ra như một hiện tượng văn hóa-nghệ thuật đương đại, Giáo sư Hoàng Xuân Nhị đã gác lại nhiều công trình nghiên cứu và dịch thuật về mỹ học, về văn học phương Tây, tập trung nghiên cứu, xây dựng chuyên đề “Thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh”-một môn học cho sinh viên năm thứ tư chuyên ngành văn học trước khi tốt nghiệp. Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Nỗi đau mất mát của Giáo sư Hoàng Xuân Nhị trước quốc tang còn tăng lên gấp bội khi cuốn sách “Tìm hiểu thơ Hồ Chí Minh” của ông chưa kịp xuất bản, ông chưa có sách đến kính tặng Người.

Sau chuyên đề in thành sách đó, Giáo sư Hoàng Xuân Nhị bắt tay vào dịch “Nhật ký trong tù” và nhiều bài thơ của Bác ra tiếng Pháp để độc giả cộng đồng Pháp ngữ hiểu thêm về một danh nhân văn hóa của Việt Nam. Cũng từ sau ngày Bác mất, vào thập niên 1970-1980 cho đến tận cuối đời, mỗi khi giảng bài, trò chuyện, nhắc đến tên tuổi, cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Giáo sư Hoàng Xuân Nhị không nén được nỗi xúc động, nghẹn ngào. Câu chuyện nước mắt Giáo sư Hoàng Xuân Nhị rơi trên trang giáo trình “Thơ Hồ Chí Minh” là câu chuyện có thật, thậm chí trở thành giai thoại đối với sinh viên Khoa Ngữ văn chúng tôi. Có nhiều người giải thích nỗi xúc động đó của Giáo sư bằng nhiều giả thuyết khác nhau.

Mọi chuyện chỉ trở nên rõ ràng khi Giáo sư giãi bày tâm sự cùng con cháu trong gia đình: “Đừng lộ cho ai biết nhà ta thuộc họ ngoại của Bác Hồ, kẻo mang tiếng “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Ba khóc không chỉ vì thương Bác mà chủ yếu vì chịu ơn Bác. Bác đã quyết định cả cuộc đời ba, rửa nỗi hổ thẹn của ba khi du học ở xứ người. Trong một lần Đại học Sorbonne có lễ hội quốc tế, ông hiệu trưởng yêu cầu sinh viên mỗi nước phải hát Quốc ca nước mình để giới thiệu văn hóa dân tộc. Đến lượt ba, ba giật mình vì nước mình khi đó không có Quốc ca. Chữa thẹn, ba đã phải vắt óc nhớ, cất tiếng hát mấy câu ví, giặm Hà Tĩnh, nói dối đó là Quốc ca của Việt Nam. Cả hội trường không ai biết, cứ vỗ tay khen, còn ba âm thầm ôm nỗi nhục đó một mình cho đến năm 1946, khi trông thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh và theo lời khuyên của Người, mua vé tàu về tham gia kháng chiến... Ba khóc là vì nhớ ơn người rửa thẹn cho ba từ ngày ấy”. 

 PGS, TS PHẠM THÀNH HƯNG