Âm nhạc Phạm Tuyên là biên niên sử bằng âm thanh. Ông nuôi dưỡng niềm tin, để sống và cống hiến.

“Cậu ấm” trong gia đình Ngự tiền Văn phòng...

Sinh ngày 12-1-1930 - năm Canh Ngọ, nhưng số tử vi của Phạm Tuyên phải tính từ tuổi rắn, nghĩa là tháng Chạp năm Kỷ Tỵ (1929). Ngôi nhà số 5 Hàng Da (Hà Nội) là nơi ông cất tiếng khóc chào đời. Nơi ấy rất gần với một rạp hát Olympia, đêm ngày vang lên những âm thanh say đắm lòng người. 6 tuổi, Phạm Tuyên theo cha mẹ vào Huế, hòa vào nếp sống gia đình thượng lưu, trong ngôi biệt thự Hoa Đường bên sông An Cựu. Phạm Tuyên học tiểu học đã tiếp cận đàn nguyệt với những bài cổ nhạc. Vào Trường Quốc học Huế, ông học nhạc lý phương Tây, biết chơi phong cầm và ghi-ta, từng là bạn tri âm với nhạc sĩ Trần Hoàn.

Phạm Tuyên là con thứ 9 (con trai thứ 4) của ông chủ bút Tạp chí Nam Phong- Phạm Quỳnh, từng nổi tiếng với câu nói “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” từ những năm đầu thế kỷ trước. Cha ông là nhà văn hóa, tận tâm muốn tài bồi nền quốc văn, quốc học cho dân tộc. Năm 1932, Phạm Quỳnh được triều đình vua Bảo Đại mời vào Huế giữ chức Ngự tiền Văn phòng, rồi sau giữ các chức vụ: Thượng thư Bộ Lại, Bộ Học...

Nhưng từ sau Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, ông đã từ quan về ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường, viết văn và dịch thơ Đường, là chỗ dựa tinh thần cho con cháu… Cách mạng Tháng Tám nổ ra ở Huế, chiều 23-8, có một nhóm người vào biệt thự mời ông ra tòa Khâm sứ để làm việc. Ông bình thản đi theo và từ đó mất tích. Ít người biết rằng chính khi ấy, Phạm Tuyên đang là học sinh Trường Quốc học Huế, cùng người nhà và hàng nghìn quần chúng đang xuống đường tham gia biểu tình chào mừng cách mạng thành công… 

Gia biến đổ ập xuống gia đình, nhưng không làm nhụt ý chí của Phạm Tuyên là sống để cống hiến. Sau đó, anh đã tham gia các hoạt động của thanh niên, sinh viên và trở thành anh Bộ đội Cụ Hồ, từng là Đại đội trưởng Trường Thiếu sinh quân Việt Nam, rồi cán bộ phụ trách văn-thể-mỹ ở Khu học xá Trung ương (Nam Ninh-Trung Quốc) thuộc Bộ Giáo dục... Tài năng âm nhạc Phạm Tuyên phát lộ từ những tháng năm kháng chiến gian khổ ấy.

leftcenterrightdel
Nhạc sĩ Phạm Tuyên với người bạn đời, cũng là bạn tri âm - PGS, TS Nguyễn Ánh Tuyết. 
... Đến người nhạc sĩ tài hoa của nhân dân

Năm 1958, Phạm Tuyên vác ba lô về Đài Tiếng nói Việt Nam, bắt đầu hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp. Âm nhạc Phạm Tuyên giản dị nhưng không dễ dãi, có tính phổ cập mà vẫn trí tuệ, càng nghe càng thấm. Chặng đường đi lên của đất nước đều được ông ghi bằng âm nhạc, mà có đỉnh, có “bia tạc” hẳn hoi. Từ hình ảnh người thợ rừng, thợ mỏ đến người dân bám biển quê hương; từ những con đường, chiếc gậy Trường Sơn đến anh bạn Mỹ gẩy đàn bên kia bán cầu… Từ lá thư hậu phương, câu hát mẹ ru, ngã tư đường phố đến hình ảnh cô gái đồng chiêm… đều hiện lên tha thiết trên khuông nhạc của người nhạc sĩ tài hoa.

Năm 1960, kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, cả nước phơi phới trong nét nhạc của “Đảng đã cho ta một mùa Xuân”. 15 năm sau (1975), cả núi sông, cả dân tộc rộn ràng trong khúc ca thống nhất “Như có Bác trong ngày đại thắng”.

Nếu “Tiến quân ca” của Văn Cao là mốc của thời kỳ giành chính quyền cách mạng, “Chiến thắng Điện Biên” của Đỗ Nhuận trong giai đoạn chấm dứt 9 năm kháng chiến chống Pháp, thì ca khúc “Như có Bác trong ngày đại thắng” là mốc son về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại để thống nhất non sông.

 Riêng một tác phẩm này mà Phạm Tuyên được nhận Huân chương Lao động hạng ba, một điều từ trước tới nay chưa có tiền lệ.

Trong sự nghiệp âm nhạc, Phạm Tuyên đã tạo nên hai nốt nhấn, rất ấn tượng. Đó là đề tài ca khúc về Đảng, đất nước và âm nhạc cho trẻ thơ. Với hơn 200 ca khúc, chiếm khoảng một phần ba gia tài đồ sộ của mình, những nhạc phẩm cho lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng đã được nhiều thế hệ thiếu nhi cả nước yêu thích: “Đêm pháo hoa”, “Trường cháu là trường mầm non”, “Cô và mẹ”, “Chiếc đèn ông sao”, “Tiến lên đoàn viên”… Hầu hết những tác phẩm ấy ông được người bạn đời-Phó giáo sư, Tiến sĩ tâm lý học Nguyễn Ánh Tuyết-giúp sức... Bà là mẹ của hai con, là bạn tri âm của chồng.

Phạm Tuyên còn viết sách lý luận âm nhạc và nhiệt tình hoạt động phong trào. Chỉ tính từ khi làm âm nhạc chuyên nghiệp (năm 1958) cho tới lúc nghỉ hưu (năm 1994), Phạm Tuyên sáng tác khoảng 700 ca khúc trữ tình cách mạng.

Phạm Tuyên được Nhà nước và xã hội trao nhiều giải thưởng lớn, nhiều danh hiệu cao quý. Ngoài các huân chương, nhiều huy chương của các bộ, ngành trao tặng, ông được tôn vinh là Công dân Thủ đô ưu tú năm 2011… Phạm Tuyên còn được Nhà nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học-nghệ thuật. Ông tâm sự: Phần thưởng lớn nhất là được làm nhạc sĩ của nhân dân.

 “Hãy biết sống và cống hiến cả khi đời mình hoàn cảnh không thuận lợi”, ông bộc bạch như vậy. Năm 1945, đúng vào khoảnh khắc lịch sử của dân tộc, người cha mất đi, để lại không ít lời thị phi của đương thời... Phạm Tuyên đã vượt qua mặc cảm để học tập và phấn đấu. Nhờ tự học, tự nghiên cứu mà sau này nhạc sĩ có thể nghe, đọc, nói 3 ngoại ngữ Pháp, Anh, Hoa, để rồi có thể dịch hàng trăm ca khúc của nhiều nước trên thế giới, được xuất bản, trình diễn trên làn sóng phát thanh, truyền hình, sân khấu ca nhạc…

Cũng bởi được thừa hưởng phong cách giáo dục trong một gia đình có phông văn hóa, Phạm Tuyên tiếp lửa nuôi dưỡng đức tin, tin vào cuộc đời. 19 tuổi đã là anh Bộ đội Cụ Hồ và 20 tuổi, anh đã thành người cộng sản...

Còn bây giờ, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã ở vào tuổi 88. Người nhạc sĩ già vẫn khỏe. Vài năm trước ông còn nói, mình đi giúp địa phương thẩm định các nhạc phẩm, vẫn tiếp xúc với báo chí, dự các sự kiện lớn về âm nhạc... Ông đau đáu một khát vọng là hãy quan tâm hơn nữa đến âm nhạc thiếu nhi. Hãy gieo vào tâm hồn các em những nét đẹp truyền thống, nhân văn hướng đến tương lai.

Giáo sư Văn Tạo coi Phạm Tuyên là người trí thức dấn thân. Nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét Phạm Tuyên đã biến nỗi đắng đót trong cõi lòng mình thành sắc hoa vàng. Vâng, trước hết Phạm Tuyên còn là người chói sáng một đức tin. Có nó, ông đã sống, sáng tạo và cống hiến.

Bài và ảnh: KHÚC HÀ LINH