Ở tuổi 82, ông vẫn “quần đùi, áo may ô” chỉ đạo cánh thợ hồ đang thi công căn nhà của mình, rồi hừng hực khí thế khi kể về tuổi trẻ oanh liệt với đời quân ngũ ra đi từ lời thề giải phóng quê hương, giữa chừng lại ngừng hỏi: “Tớ nói nhanh thế, các cậu có ghi chép kịp không?”.

leftcenterrightdel
Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Hoàng Đăng Vinh. Ảnh: Ngọc Mai 
MIẾNG CHÁO CÁM VÀ BÁT CANH CHAN NƯỚC MẮT...

Sinh năm 1935 tại thôn Hoàng Các, xã Tiên Tiến, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên trong gia đình có 5 anh em, ngay từ thuở lên 10, Hoàng Đăng Vinh đã phải chịu đựng cái “đói mòn, đói mỏi” tưởng không thể nào vượt qua nổi. Nhớ mãi buổi chiều hè năm 1945, hình ảnh mẹ ông trong chiếc áo vá tất tả chạy vạy khắp nơi mới vay được vài hào, mua cám gạo thừa về nấu cháo cho con ăn. “Đang tuổi ăn tuổi lớn, bụng đói cồn cào mà không hiểu sao miếng cháo cám cứ ứ lại ở cổ tôi không trôi nổi. “Mẹ ơi, con không tài nào nuốt được”-Lời muốn nói cứ nghẹn lại trong tôi. Rồi mấy mẹ con nhìn nhau chực trào nước mắt mà vẫn động viên nhau cố gắng”-Ông kể.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã thổi luồng gió mới đến quê hương ông. Mọi người được cấp gạo ăn và đi học bình dân học vụ. Nhưng ngày vui qua nhanh bởi sau đó, thực dân Pháp quay trở lại xâm chiếm nước ta. Những năm 1949-1950, chính sách cai trị của chế độ thực dân ngày càng hà khắc. Khắp các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ địch xây đồn bốt để bắt bớ, tra tấn và giết hại nhân dân. Trong đó có bốt La Tiến trên quê hương Hoàng Đăng Vinh, án ngữ ở ngã ba sông Luộc, khét tiếng tàn ác. Ngày nào địch cũng đi càn, bắt bớ người dân vô tội đưa về bốt đánh đập, tra tấn và giết hại. “Tôi vẫn nhớ trong một lần càn, địch bắt được bộ đội và dân quân, du kích đưa về sân đình. Chúng tập trung dân hai làng Hoàng Các và Hoàng Xá, bắt mọi người chứng kiến hành động dã man, tàn bạo của chúng đối với những người bị bắt: Cứ sau mỗi câu hỏi không được trả lời là chúng chém một ngón tay, một bàn tay, xẻo một bên tai, xẻo cả hai môi...”-Anh hùng Hoàng Đăng Vinh nhớ lại. 

Ngay chính bản thân ông cũng bị địch bắt về bốt La Tiến giam cầm và buộc phải lao động khổ sai. Đó là một ngày đầu năm 1952, khi đang cất vó ở con ngòi trong làng thì Hoàng Đăng Vinh gặp địch đi càn. Từ xa, trông thấy chúng, ông đã tránh đi nhưng vẫn bị phát hiện, vu là Việt Minh và bắt nhốt trong bốt La Tiến. 4 ngày liền ông bị bọn chúng vô cớ đánh đập, bắt đi gánh cát từ bãi sông cách đó hàng cây số về để xây đồn bốt. Chàng trai Hoàng Đăng Vinh khi ấy 17 tuổi nhưng rất gầy, nhỏ bé. Ông kể: “Sau nhiều lần xin thăm con không được, một hôm tranh thủ buổi trưa bọn lính gác xao nhãng việc, mẹ tôi nấu nồi canh mang đến. Nài nỉ mãi và phải đưa 1 đồng tiền Đông Dương lót tay tên lính gác mới cho vào. Chẳng kịp nói gì với con, mẹ tôi phải quay ra ngay. Còn tôi, chưa kịp và miếng canh vào miệng thì tên đội đến. Hắn giơ chân đá tung bát canh tôi đang bê, đổ tung tóe khắp người tôi rồi dùng roi da đánh tới tấp, bắt tôi phải đi làm. Lúc đó tôi ức lắm, cố cắn răng chịu đựng, không khóc nhưng không hiểu sao nước mắt cứ thế ứa ra”.

Đêm ấy, nỗi đau đớn và uất ức dồn nén khiến ông không thể chợp mắt. Ông liên tưởng đến ngày Cách mạng Tháng Tám thành công đã mang cơm áo và tự do đến cho nhân dân. Ông nhận ra rằng chỉ có con đường đi bộ đội, theo Việt Minh làm cách mạng mới có “bát cơm hạnh phúc” và cuộc sống tự do. Nhưng việc trước mắt là phải thoát khỏi bốt La Tiến. May mắn cho ông, thời điểm đó, do quân Pháp bắt bớ quá nhiều người về giam kín bốt nên chúng buộc phải thả bớt. Dù 17 tuổi nhưng nhờ dáng người bé nhỏ nên ông và một số người bị cho là già cả và trẻ con, vô hại nên được cho về. Cơ hội đi trên con đường lý tưởng của Hoàng Đăng Vinh đã mở...

VÀ NGƯỜI ANH HÙNG BẮT SỐNG TƯỚNG ĐỜ CÁT

Chàng thanh niên Hoàng Đăng Vinh được tự do, ngày ngày làm việc nhưng luôn để tâm nghe ngóng, tìm cách bắt liên lạc với cách mạng. Một đêm, khi đang kéo vó bè, một thanh niên bơi thuyền bám vào lều vó của ông. Sau một hồi trò chuyện mới biết đây là cán bộ thanh niên của địa phương, hoạt động bí mật. Nhân cơ hội gặp gỡ, Hoàng Đăng Vinh bày tỏ ý định được đứng trong hàng ngũ những người cộng sản chiến đấu giải phóng quê hương, đất nước, dù phải gặp khó khăn, thậm chí là hy sinh tính mạng cũng sẵn sàng. Có lẽ đã quan sát, tìm hiểu Hoàng Đăng Vinh từ trước nên người cán bộ đồng ý ghi tên Vinh vào danh sách. “Cuộc đời quân ngũ của tôi bắt đầu từ sau đêm đó. 39 năm gắn bó, tôi đã tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường khác nhau. Đặc biệt là vinh dự có mặt trong cả hai trận Điện Biên Phủ lịch sử (1954, 1972). Chuyện thì nhiều lắm nhưng có hai lần giáp mặt với tướng Đờ Cát năm 1954 mãi mãi là kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên”-Đại tá Hoàng Đăng Vinh cười nói.

leftcenterrightdel
Bác Hồ tặng Huy hiệu Điện Biên cho chiến sĩ Hoàng Đăng Vinh. Ảnh tư liệu 
Lần thứ nhất là vào 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Đại đội 360 (Trung đoàn 209, Đại đoàn 312) Tạ Quốc Luật, 4 người gồm Hoàng Đăng Vinh, Đào Văn Hiếu, Bùi Văn Nhỏ, Nguyễn Văn Lam vào bắt Đờ Cát và bộ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải đầu hàng. Lúc này, trong hầm của địch có khoảng 20 sĩ quan Pháp đều mang mặc rất chỉn chu. Thấy tổ 5 người bước vào, chúng nhớn nhác, co dúm lại với nhau, có tên chui cả xuống gầm bàn. Đại đội trưởng Luật ra lệnh bằng tiếng Pháp, tất cả bọn chúng đều bỏ súng đứng dậy giơ tay đầu hàng. Riêng Đờ Cát vẫn ngồi yên, thấy vậy, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật ra lệnh: Đồng chí Vinh bắt Đờ Cát phải đầu hàng. “Tôi tiến thẳng tới trước mặt Đờ Cát trong tư thế hùng dũng, mắt mở to, môi mím chặt, ngón tay để sẵn vào cò súng. Đờ Cát đứng ngay dậy và chìa tay xin bắt tay. Sao có thể bắt tay lúc này, ngay lập tức tôi thọc mũi súng tiểu liên vào bụng ông ta và quát to: Hô-lơ-manh (giơ tay lên). Đờ Cát sợ quá lùi lại và giơ tay lên miệng nói một tràng tiếng Pháp. Thực ra lúc đó tôi không hiểu ông ta nói gì, sau nghe Đại đội trưởng Luật dịch lại mới biết hắn rối rít nói: Các ông đừng bắn, tôi xin hàng”-ông kể.

Dưới sự áp giải của 5 người lính Bộ đội Cụ Hồ, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ bộ tham mưu Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ nối đuôi nhau ra khỏi hầm, dáng lầm lũi, vẻ mặt thất thểu thay thế cho sự huênh hoang, kiêu căng thuở ban đầu. Sau đó, Hoàng Đăng Vinh cùng đồng đội trở lại đơn vị tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Ông cũng không ngờ, chỉ chưa đầy 15 ngày sau, ông lại có dịp đối mặt với viên tướng bại trận này.

Ấy là sáng 20-5-1954, sau khi dự lễ mừng công ở Mường Phăng, vinh dự là 1 trong 5 chiến sĩ đại diện cho các sư đoàn vào gặp, mừng sinh nhật Bác, theo yêu cầu của đoàn làm phim tư liệu của đạo diễn Liên Xô Các-men, Hoàng Đăng Vinh được mời tới dự buổi phỏng vấn Đờ Cát. Ông được bố trí ngồi đầu bàn phía đối diện viên tướng Pháp này. “Đồng chí Bùi Đình Hạc chỉ vào tôi hỏi Đờ Cát: Ông có biết anh này là ai không? Suy nghĩ một chút, Đờ Cát trả lời: “Nếu tôi không nhầm thì tôi đã gặp anh này rồi”. Đồng chí Bùi Đình Hạc nói tiếp: “Tôi khen ông có trí nhớ rất khá, chính anh này đã vào hầm bắt ông ra”. Đờ Cát hơi lúng túng nhưng đã nhìn tôi và nói: “Tôi rất hân hạnh nếu được chỉ huy những người lính dũng cảm như anh”. Thế là tôi đứng bật dậy quát: “Ông nói láo, ông chỉ huy thế nào được tôi. Chính tôi đã vào hầm tóm cổ ông ra”. Khi nghe phiên dịch viên dịch lại, tôi thấy Đờ Cát gục mặt xuống và quay ra ngoài”-kể đến đây, ông cười khà khà-“Lúc đấy nóng giận thì lớn tiếng thế, chứ tớ hiểu ý ông ta không phải vậy”.

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Hoàng Đăng Vinh lại cùng đồng đội bước tiếp vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên các chiến trường, ông đều phát huy tinh thần chiến sĩ Điện Biên, lập nhiều thành tích trong chiến đấu được khen thưởng. Tháng 8-2015, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Đại tá Hoàng Đăng Vinh. Giờ đây, trở về với cuộc sống đời thường, với sự nhiệt tình, trách nhiệm, chỉ cần không bận việc, Đại tá Hoàng Đăng Vinh lại miệt mài đi “truyền lửa” Điện Biên năm nào cho thế hệ trẻ thông qua việc nói chuyện ở các trường quân sự, các đơn vị và địa phương trong cả nước.

BÍCH TRANG