Ngày 6-12-1967, Quân ủy Trung ương chính thức quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 do Thiếu tướng Trần Quý Hai làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Quang Đạo làm Chính ủy. Nhiệm vụ giao cho Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 là tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quân Mỹ - ngụy, thu hút địch ra Đường 9 càng nhiều càng tốt, tạo điều kiện cho các chiến trường khác đánh địch. Trên Đường 9, ta đánh từ Tây sang Đông, bao vây tấn công Khe Sanh, một căn cứ quan trọng của Mỹ, kết hợp với các hoạt động khác nhằm thực hiện cho được nhiệm vụ đề ra.

leftcenterrightdel
Cố vấn Walt Rostow trình bày với Tổng thống Lyndon Johnson trên sa bàn Khe Sanh, ngày 15-2-1968.

Thung lũng Khe Sanh nằm ở vùng rừng núi heo hút phía tây Quảng Trị, được xác định là một trong những địa bàn chiến lược ở khu vực giáp ranh giới tuyến. Năm 1966, tại khu vực nam vĩ tuyến 17 đến Đường 9-Khe Sanh, Mỹ đã cho xây dựng tuyến phòng thủ vô hình, lấy tên là hàng rào điện tử McNamara. Khe Sanh được định vị là một trong ba mắt thần của hàng rào điện tử này, nơi Mỹ tập trung xây dựng một tập đoàn cứ điểm, gồm: Chi khu quân sự Hướng Hóa, cụm cứ điểm Làng Vây và Sân bay Tà Cơn. Với tham vọng ngăn chặn quân ta xâm nhập từ miền Bắc vào hoặc từ Lào sang, Mỹ coi đây là bàn đạp để cắt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh của ta. Với hệ thống phòng ngự dày đặc và hỏa lực mạnh như vậy, Khe Sanh được Mỹ kỳ vọng là thỏi nam châm hút Quân Giải phóng vào một thế trận “Điện Biên Phủ đảo ngược”, theo đúng kịch bản chiến tranh kiểu Mỹ. Nhà báo Mỹ Stanley Karnow, khi là thông tín viên của tờ Washington Post tường thuật về Việt Nam và Đông Nam Á, từng miêu tả trong một phóng sự: “Tổng thống Lyndon Johnson và Nhà Trắng nghĩ rằng Khe Sanh là một Điện Biên Phủ nữa. Họ yêu cầu tướng Westmoreland - Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam - phải ký giấy cam đoan không được để mất Khe Sanh vì đó là danh dự của nước Mỹ”.

Về phía ta, khi nhận nhiệm vụ, trước sự quần thảo của máy bay địch, dù khu vực Sở chỉ huy chính đã được chuẩn bị kỹ càng từ rất lâu nhưng Tư lệnh Trần Quý Hai và Chính ủy Lê Quang Đạo đã quyết định di chuyển đến Sở chỉ huy dự bị chỉ vài giờ trước khi B-52 ném bom rải thảm toàn bộ khu vực. “Trên đường di chuyển đến Sở chỉ huy mới, chợt thấy tiếng bom nổ rất to bên cạnh, đồng chí Hòa-cán bộ bảo vệ và một chiến sĩ đi cùng đã nằm đè lên che cho tôi, trên lưng mỗi người đều mang một ba lô con cóc to. Nhờ đó, tôi được an toàn. Nhưng hai đồng chí đã bị thương vì đá văng vào. Lúc ấy, tôi không kìm được sự xúc động trước tấm lòng và tinh thần dũng cảm của anh em, đồng chí”-Chính ủy Lê Quang Đạo từng kể lại chi tiết xúc động này trong bài phát biểu năm 1998, nhân kỷ niệm 30 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Chính tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng trong khói lửa ấy đã tiếp sức mạnh cho họ quyết tâm thực hiện nhiệm vụ giam chân địch tại Khe Sanh.

Giờ G đã đến. 17 giờ ngày 20-1-1968, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 bắt đầu hành quân từ vị trí tập kết tiến công chi khu Hướng Hóa, dự định tiêu diệt chi khu ngay trong đêm. Trên đường hành quân, trung đoàn bị B-52 đánh vào đội hình. Vừa khắc phục hậu quả do B-52 gây nên, vừa mở đường hành quân, 4 giờ ngày 21-1, trung đoàn quyết định triển khai lực lượng và tiến công ngay để thực hiện đúng thời gian chiến đấu do cấp trên giao. Rạng sáng 22-1, trung đoàn đã làm chủ chi khu Hướng Hóa, bố trí lại đội hình chiến đấu để đánh viện binh địch. Các ngày 23 và 24-1, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304 được một đại đội xe tăng chi viện đã diệt xong cụm quân địch ở khu vực Tà Mây. Toàn bộ lực lượng Sư đoàn 304 triển khai sẵn sàng đánh địch hành quân giải tỏa. Thiếu tướng Hoàng Đan, lúc bấy giờ là Phó tư lệnh Sư đoàn 304B (đơn vị dự bị của Sư đoàn 304) kể trong hồi ký: “Sau 10 ngày kể từ khi ta tiến công chi khu Hướng Hóa, vẫn không thấy địch hành quân giải tỏa. Lúc nhận nhiệm vụ, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 Thái Dũng xin ý kiến đồng chí Trần Quý Hai: Nếu địch không hành quân giải tỏa thì nhiệm vụ tiếp theo của sư đoàn là gì? Đồng chí Trần Quý Hai khẳng định địch sẽ hành quân ngay khi chủ lực ta xuất hiện và nói thêm: “Không sợ địch không lên, chỉ lo các anh không đủ sức đánh dài ngày để cầm chân chúng”. Và chỉ sau khi cuộc tiến công vào các thành phố, thị xã diễn ra, chúng tôi mới được phổ biến, nhiệm vụ của Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh là kéo địch lên, giam địch nhiều ngày ở vùng rừng núi để tạo điều kiện thuận lợi cho đòn tiến công chủ yếu của ta đánh vào các thành phố, thị xã”.

Lúc này, quân địch bàng hoàng sửng sốt trước tin tức Chi khu quân sự Hướng Hóa bị mất. Đêm 2-2, Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 48, Sư đoàn 320 phối hợp với bộ đội địa phương lại đánh Chi khu quân sự Cam Lộ, giải thoát khoảng 6.000 dân bị chúng kìm kẹp. Đêm 6-2, Trung đoàn 24 của Sư đoàn 304 được tăng cường thêm một tiểu đoàn của Sư đoàn 325, một tiểu đoàn pháo, hai đại đội xe tăng, tiêu diệt cứ điểm Làng Vây loại hàng trăm tên, bắt sống hơn 250 tên biệt kích ngụy và 5 tên Mỹ, thu toàn bộ vũ khí. Diệt được hai vị trí tiền tiêu, bóc vỏ được hết lớp ngoài, quân ta bước vào thời kỳ áp sát bao vây dài ngày cụm cứ điểm Tà Cơn... Ngày 15-7-1968, ta hoàn toàn làm chủ Khe Sanh, giải phóng toàn huyện Hướng Hóa.

leftcenterrightdel
Kho đạn trong căn cứ Khe Sanh bốc cháy vì pháo kích. Ảnh tư liệu.

Và rồi trong nỗ lực bảo vệ Khe Sanh bằng mọi giá, Mỹ đã thực hiện liên tiếp các đợt ném bom rải thảm với hơn 100.000 tấn bom, cày nát 32km2 chiến trường với mức độ ác liệt và tàn khốc chưa từng có. Nhớ lại khoảng thời gian 170 ngày đêm bị vây hãm tại Khe Sanh, trả lời phỏng vấn trong một bộ phim tài liệu, cựu binh Mỹ Scott Jones vẫn còn bị ám ảnh: “Chúng tôi đã ở dưới những căn hầm trú ẩn nhỏ, quanh đó bom đạn của hai bên không ngừng hướng vào nhau, rất nhiều người chết và bị thương. Chúng tôi không có nước uống và thiếu lương thực trầm trọng, chỉ cố gắng cầm cự để mong sống sót”. Và khi cuộc pháo kích lên đến đỉnh điểm, lính Mỹ hồi hộp chờ đợi một cuộc tấn công ồ ạt của Quân Giải phóng vào căn cứ Khe Sanh. Thế nhưng cuộc tấn công đó đã không xảy ra. Giữa lúc Khe Sanh trở thành tâm điểm chú ý của nước Mỹ thì các đô thị trên toàn miền Nam đồng loạt nổ súng, giành thắng lợi to lớn. Mặt trận Khe Sanh đã hoàn thành nhiệm vụ làm cho kẻ địch phải phân tán lực lượng và bị bất ngờ về hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta trong mùa Xuân 1968...

“Cuộc thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân, dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của toàn miền Nam từ đầu Xuân đến nay. Cùng với những thắng lợi của ta ở các chiến trường khác, nó mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa” -(Hồ Chí Minh).

SONG THANH - PHẠM BÁ QUÝ

Con số - Sự kiện

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã đánh vào 4 trong 6 thành phố lớn, 37 trong số 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 trong số 11 bộ tư lệnh sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ cùng nhiều bộ tư lệnh lữ đoàn, trung đoàn, chi khu và hàng trăm căn cứ quân sự địch bị tiến công đồng loạt. Chúng ta tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn quân địch, trong đó có 4 vạn quân Mỹ, 600 ấp chiến lược, giải phóng thêm 100 xã với hơn 1,6 triệu dân.

Phi Long (sưu tầm, tổng hợp)