Đêm ấy, trời bỗng mưa nhưng dường như không ai để ý, đêm diễn qua mau, về hầm trú ẩn rồi mà không ai muốn ngủ. Những cô gái văn công cứ ám ảnh mãi trong tâm trí những chàng trai nơi trận mạc. Chuyện cứ nở ra chật như muốn nổ tung những căn hầm. Ở giữa nơi bom đạn “chuyện tình trong mơ” ấy nhiều khi lại là một niềm vui vơi đi bao nhiêu mất mát… Sáng hôm sau, cả tiểu đoàn bộ lại chia nhau đi gùi gạo, chặt cây làm hầm, củng cố hậu cứ mà hình bóng những cô gái, chị gái văn công ấy vẫn còn theo bước các chiến sĩ vào rừng. Tạnh mưa có ánh mặt trời, Tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Chín mới nảy ra ý định đi đánh cá để cải thiện. Thế là Nguyễn Toàn Thắng, Trần Cường và tôi cùng chuẩn bị đi. Toàn Thắng và Trần Cường từng được mệnh danh là “rái cá” vùng chiêm trũng Hải Hậu, Hà Nam Ninh (nay là Nam Định). Chúng tôi mang một cái gùi, trong đó có một túi gạo rang để ăn trưa và một số miếng thuốc nổ, mỗi miếng chừng một phần ba hoặc một phần tư thỏi TNT đã gài sẵn kíp.

Khi chúng tôi chuẩn bị ra khỏi hầm thì chị Thu Vĩnh đến tiểu đội chơi. Chị Thu Vĩnh là nhạc công của Đoàn Văn công Quân khu trong tổ xung kích. Chị có dáng người cao, nước da trắng, gương mặt thật xinh và rất ưa nhìn. Có lẽ vậy nên chị thường mặc bộ đồ đen tôn nước da trắng ngần của chị. Cả tiểu đội liên lạc ai cũng vui, có cậu tán như xé vải. Giữa trận mạc hiếm hoi mới thấy bóng dáng phụ nữ, vả lại phụ nữ là cô văn công xinh đẹp ai chả thích ngắm, thích nói, dễ cả trái tim sắt cũng buột thành lời! Giữa lúc mọi người tán chuyện với Thu Vĩnh, tôi nghe Chín lủng bủng trong miệng: “Gặp phụ nữ mặc đồ đen thì xúi lắm!”. Nói thế nhưng Chín vẫn kéo chúng tôi ra và bảo cứ đi đi cố gắng kiếm mấy con cá về cho tiểu đội cải thiện sau những ngày “ăn khô” trên chốt, ở lại mà tán thì không biết đến bao giờ. Chúng tôi tụt xuống chân đồi để tìm đường ngược suối. Toàn Thắng vừa đi vừa ngoái lại, cái miệng cứ lép bép, chắc cậu ta còn luyến tiếc cuộc gặp như mơ với “nàng Thu!”.

Quần đùi, áo buộc túm gấu trước, vai mang dụng cụ, cứ thế chúng tôi lội ngược suối. Con suối càng lội càng lên dốc, càng ngược nguồn càng nguy hiểm. Kể ra cũng liều thật, ở nơi sát nách địch mà đi ngược suối đánh cá lại không ai mang súng, nếu gặp biệt kích, thám báo địch chắc phải giấu mình. Ba đứa đi cả tiếng đồng hồ nhưng vẫn chưa tìm được đoạn suối nào để đánh thuốc nổ. Toàn Thắng và Trần Cường đều là hai tay kiếm cá cừ khôi, có lẽ tuổi thơ ở quê đã từng là những tay rái cá trên những cánh đồng chiêm trũng nên Trần Cường chỉ nhìn mặt nước, nhìn những con cá chạy vào, chạy ra là có thể đoán được đoạn suối này nhiều hay ít cá, đoạn suối nào trong hang có cá chình… Rồi chúng tôi dừng lại dưới chân một thác nước cao chừng 5m. Dưới chân thác là một vũng suối sâu và rộng có vẻ như nhiều cá. Ngắm nghía một lúc Toàn Thắng thốt ra: “Vũng này chỉ toàn cá bộp!” (một loại cá suối ở Trường Sơn hình giống cá trắm nhỏ nhưng bụng to, xương nhiều, ít thịt). Thế là Toàn Thắng và Trần Cường lại vạch đường lách lên ngọn thác để tiếp tục tìm chỗ khác. Tôi thu xếp đồ và xách túi đi sau, vừa bám vào sườn đá vừa níu dây rừng để ngược thác. Bỗng “phựt”, dây rừng đứt, tôi rơi tự do xuống vũng suối sâu dưới chân thác. Có lẽ chỗ tôi bám dây rừng bị đứt và rơi xuống là chỗ vách đá hàm ếch chìa ra nên khi rơi tự do người tôi không bị va đập vào vách đá. Nước sâu, vách đá trơn nhẵn không có chỗ bám, tôi vùng vẫy không biết bao lâu tưởng như đã kiệt sức thì bàn tay bấu vào được một mỏm đá bằng ngón chân cái nhô lên. Cứ thế tay bám mỏm đá để giữ mình nổi trên mặt nước, tôi ngửa mặt gọi Toàn Thắng và Trần Cường nhưng chắc có lẽ hai cậu ấy đã đi xa, tiếng gọi của tôi dưới vũng sâu lại bị dìm trong tiếng thác nên không nghe được. Một hồi lâu không thấy tôi, Thắng và Cường quay lại, thấy tôi đang vùng vẫy dưới thác, hai cậu tụt xuống và chặt một cành cây dài chìa ra kéo tôi vào bờ. Toàn bộ gạo rang và thuốc TNT ướt hết không dùng được. Gạo rang thì ngấm nước, thuốc nổ nở ra nhão như cháo, đắng ngắt, chúng tôi đành nhịn đói quay về.

Về đến tiểu đội đã xế chiều, thấy vậy Chín thốt lên: “Tớ đã bảo mà, gặp phụ nữ mặc đồ đen là xúi lắm!”. Tối ấy cả tiểu đội chưng hửng, bữa cơm lại chỉ có rau môn thục nấu với tép khô… nhưng ai cũng ăn ngon bởi câu chuyện về cô văn công mặc đồ đen bỗng trở thành “gia vị” hấp dẫn như trong một bữa tiệc!  “Gia vị” ấy còn theo chúng tôi vào nhiều trận đánh tiếp theo!

Đó là một ngày cuối mùa khô năm 1972, hôm nay chép lại câu chuyện này tôi vẫn nhớ như in những gương mặt đồng đội y nguyên hơn 40 năm trước.

Thiếu tướng HỒ ANH THẮNG