Được tin tình báo Mỹ sẽ đổ quân lên dãy Cô Pung nhằm đánh phá phía sau hậu phương của Sư đoàn 324, Khẩu đội 1, chúng tôi được lệnh lên đỉnh dãy Cô Pung đào trận địa chuẩn bị đón máy bay địch đổ bộ. Nhìn từ phía tây hoặc phía đông thì dãy Cô Pung như lưng một con trâu sừng sững, phía bắc có mỏm cao 1650, phía nam có mỏm cao 1478, nối hai mỏm này là một yên ngựa thoai thoải dốc hai bên. Ở đây trước kia Pháp trồng rất nhiều chè, có những cây chè cổ thụ cả 1 người ôm nên còn gọi là “dốc chè”. Quân Mỹ rải chất độc hóa học nên rừng chỉ còn những cây lúp xúp, các cây lớn cổ thụ đều chết đứng gãy cành, gãy ngọn.

leftcenterrightdel
Anh hùng Đặng Thọ Truật kể chuyện chiến đấu cho các em học sinh Trường THPT Nguyễn Duy Trinh, tỉnh Nghệ An. Ảnh: ĐẶNG THĂNG. 

Đại đội trưởng Nguyễn Thanh Phàn và chúng tôi cùng đi trinh sát suốt đỉnh dãy Cô Pung. Cuối cùng, chúng tôi quyết định đào ba trận địa, một trận địa ở phía bắc điểm cao 1478, một trận địa ở phía nam điểm cao 1650, một trận địa ở yên ngựa khoảng giữa hai điểm cao 1478 và 1650. Nếu máy bay của địch đổ bộ lên hai điểm cao này thì súng cao xạ 12,7mm đều phát huy được tác dụng. Vì từ điểm cao 1650 đến điểm cao 1478 đường chim bay chỉ khoảng hơn 300m. Sau hai ngày đào xong ba công sự kiên cố, Đại đội trưởng Phàn quyết định trận địa chính đặt ở yên ngựa khoảng giữa hai điểm cao, chỉ để lại 8 người, còn toàn bộ rút về hậu cứ. 8 người ở lại trên trận địa chốt là anh Trần Văn Toản-Trung đội trưởng, Nguyễn Văn Thành-Khẩu đội trưởng, Đặng Thọ Truật-Xạ thủ số 1, Nguyễn Văn Hùng-Xạ thủ số 2, Trần Văn Dung-y tá, Nguyễn Văn Từ-nuôi quân, Phạm Văn Dung-Xạ thủ số 2 dự bị, Trần Văn Đào-Xạ thủ số 1 dự bị. Trên trận địa chỉ có Toản-Trung đội trưởng, Thành-Khẩu đội trưởng, Truật-Xạ thủ số 1, Hùng-Xạ thủ số 2, còn lại xuống con suối gần đấy đào hầm làm bếp Hoàng Cầm và nghỉ ngơi, sẵn sàng thay thế cho tổ chốt, nấu cơm nước mang lên trận địa.

Sáng 29-7-1970, trận địa pháo 155mm của địch ở Phú Bài và Đồng Lâm bắn cấp tập nhiều loạt lên đỉnh 1650 và 1478, dọc theo yên ngựa của dãy Cô Pung. Pháo nổ rầm rầm từng đợt, chúng tôi gọi đó là pháo bầy vì mỗi lần bắn, trận địa pháo của địch có tới 27 khẩu 155mm đều đồng loạt nổ súng. Tiếp đó, từ 10 đến 12 giờ trưa, địch liên tục dùng máy bay phản lực F4H bổ nhào ném bom nhiều đợt xuống điểm cao 1478 và các khu vực lân cận. Nhiều chiếc phản lực khi bổ nhào trườn qua trận địa của chúng tôi, phơi bụng trắng xóa, nếu nổ súng dứt khoát nó sẽ rơi tại chỗ nhưng chúng tôi quyết giữ bí mật chờ đánh quân đổ bộ.

Khoảng 6 giờ ngày 30-7-1970, pháo bầy của địch từ Đồng Lâm và Phú Bài lại bắn lên điểm cao 1478 từng chặp, từng chặp. Máy bay phản lực F4H tiếp tục ném bom xuống điểm cao 1478 và 1650, ba máy bay trực thăng vũ trang lượn vòng bắn xăm vào tất cả những chỗ chúng nghi vấn có quân ta ẩn nấp. Do trận địa chúng tôi ngụy trang khéo và kỹ nên trực thăng của địch không phát hiện được. 10 giờ, từ hướng sân bay Phú Bài, một đoàn trực thăng UH1B khoảng 10 chiếc có máy bay trực thăng vũ trang bảo vệ bay lên dãy Cô Pung. Đúng như chúng tôi phán đoán, địch đổ bộ xuống điểm cao 1478. Chúng tôi bàn: Phải để cho chúng đổ bộ 3-5 chiếc rồi mới bắn. Vì như vậy, địch buộc phải đổ quân hết để ứng cứu lẫn nhau và không dám dùng pháo bầy, máy bay phản lực đánh lại ta. Anh Toản dặn: “Cứ như các trận trước, lúc nào Truật thấy “ngon” nhất thì bắn nhé”. Bắt đầu từ chiếc thứ 6, khi địch sắp vào bãi đáp, tôi nổ súng, nhìn rõ đạn vạch đường chui vào trực thăng, chiếc máy bay loạng choạng, anh Thành bảo: “Rơi rồi, trúng rồi”. Tiếp theo, cứ mỗi điểm xạ 2-3 viên, tôi chọn những chiếc “ngon” nhất để bắn. Vì ở cự ly gần, lại sắp vào vị trí đổ bộ, máy bay địch bay rất chậm, lừ đừ như đứng tại chỗ, điểm xạ đều trúng mục tiêu. Mỗi lần tôi bắn một điểm xạ, anh Thành và anh Toản lại lấy cành lá khua khua ở trên hộp tiếp đạn để khói tản ra không lộ mục tiêu.

Bị tấn công bất ngờ, địch điều thêm máy bay trực thăng vũ trang lên lồng lộn bắn lung tung vào các điểm chúng nghi có Quân Giải phóng. Nhiều quả hỏa tiễn bắn trúng ngay trên mép ngoài công sự chúng tôi, nhưng không có quả nào trúng trận địa. Đang bắn thì thấy hộp tiếp đạn nhảy lên. Tôi kiểm tra súng và bảo: “Gãy díp tiếp đạn rồi”. Cả anh Toản và anh Thành bàn với tôi, hai anh lấy tay đè hộp tiếp đạn xuống để tôi tiếp tục bắn, nhưng mỗi lần tôi bóp cò, một viên đạn bay đi thì hộp tiếp đạn lại nhảy lên. Địch vẫn tiếp tục đổ quân. Chúng tôi kiểm lại thấy ba thùng đạn 150 viên chỉ còn 25 viên, như vậy số đạn đã bắn đi là 125 viên. Y tá Dung làm nhiệm vụ cảnh giới báo cáo: Số máy bay địch đã đổ bộ là 50 chiếc UH1A và UH1B. Chúng tôi nhẩm tính mỗi chiếc chở 11 tên địch thì tổng cộng chúng đã đổ gần 600 quân, tương đương một tiểu đoàn đủ.

Khi trận địa nổ súng, toàn bộ anh em ở dưới bếp đều chạy lên. Anh Toản giao cho Từ và Dung mang hộp tiếp đạn kèm theo một bức thư về báo cáo chỉ huy đại đội đề nghị đưa hộp tiếp đạn khác lên thay và đưa thêm đạn. Vì chưa có lệnh rút của cấp trên nên chúng tôi vẫn ở lại trận địa tổ chức canh gác, sẵn sàng chiến đấu. Khoảng 14 giờ, Hùng trực gác ở trong công sự cúi xuống bảo: “Có địch đấy”. Chúng tôi cùng đứng dậy ở trong công sự nhìn ra thấy địch đã cách trận địa chỉ khoảng 50m, nhưng vì trước trận địa chúng tôi rải nhiều cành khô làm chướng ngại vật nên chúng di chuyển khó khăn, vả lại đây là yên ngựa, hai bên sườn dốc nên địch chỉ đi được hàng hai. Anh Toản nói nhỏ: “Các cậu chuẩn bị, lúc nào tớ nổ súng thì bắn theo. Thành và Hùng ra phía cửa phụ của hầm chữ A, Truật ở lại công sự với mình”. Chờ địch vào gần khoảng 15m, anh Toản nổ súng; tôi, Thành, Hùng đều bắn theo. Mấy tên địch đi đầu ngã xuống như chuối đổ. Chúng tôi nghe tiếng địch la hét. Một lát sau, chúng lại tổ chức phản công. Mỗi lần địch phản công, chúng tôi lại nổ súng bắn trả. Khi súng hết đạn, chúng tôi sử dụng lựu đạn ném về phía địch. Vì trận địa ở thế cao hơn nên địch phản công rất khó khăn. Lúc sắp hết đạn và lựu đạn, anh Toản bảo tôi tháo súng 12,7mm lấy bộ phận khóa nòng rồi nhảy ra khỏi công sự rút về phía sau. Địch vẫn bắn theo, đạn bay vèo vèo. Mãi chiều tối, anh em chúng tôi mới về đến hậu cứ, có đồng chí lạc rừng ngày hôm sau mới tìm về được. Đồng chí Hùng liên lạc mang lệnh rút quân lên cho chúng tôi nhưng hy sinh dọc đường. Anh là con liệt sĩ, quê ở Nam Đàn, Nghệ An.

Ba ngày sau, đồng chí Trung tá Hà Ngọc Liễn, Chủ nhiệm pháo binh và các đồng chí trợ lý cao xạ Quân khu Trị Thiên Huế, Sư đoàn 324 xuống Đại đội 3, Tiểu đoàn 54 của chúng tôi. Anh Toản, anh Thành, tôi và Hùng được mời lên để báo cáo cụ thể. Đồng chí Hà Ngọc Liễn thông báo: “Quân khu và bộ bắt được điện của địch mới biết rằng, trong trận đổ bộ lên điểm cao 1478, do dọn bãi không sạch, không kỹ nên đã bị Quân Giải phóng tấn công quyết liệt, 13 chiếc máy bay UH1A đã bị rơi tại chỗ, 11 chiếc rơi gần, tổng số là 24 chiếc, khi phản công đã bị đánh trả và chết 25 binh sĩ. Viên tướng chỉ huy việc dọn bãi để đổ quân bị cách chức vì không hoàn thành nhiệm vụ. Quân khu đã kiểm tra các lực lượng tại chỗ đánh địch ở dãy Cô Pung thì biết rõ chỉ có Khẩu đội 1, Đại đội 3, Tiểu đoàn 54 chốt giữ và đánh địch. Các đồng chí đã đánh một trận tuyệt vời, ta không thương vong mà địch tổn thất rất lớn. Quân khu đã quyết định tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba cho Khẩu đội 1, Đại đội 3 và Tiểu đoàn 54. Tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì cho Xạ thủ số 1 Đặng Thọ Truật, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba cho Trung đội trưởng Toản, Khẩu đội trưởng Thành, Xạ thủ số 2 Hùng... Trận đánh của các đồng chí là một đòn chí mạng vào chiến thuật trực thăng vận, chiếm điểm cao của địch. Đây là trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao nhất trên toàn chiến trường miền Nam từ trước đến nay, vì chỉ trong 30 phút với 125 viên đạn 12,7mm, các đồng chí đã bắn rơi 24 máy bay địch”.

Năm 2005, gặp lại nhau, anh em vẫn gọi tôi là “Truật Cô Pung” vì trận Cô Pung mà tôi có thêm một biệt danh mới, biệt danh tự hào vì đồng đội thương yêu đặt cho. Tháng 12-1970, Khẩu đội 1 được báo cáo thành tích tập thể tại Đại hội liên hoan anh hùng và chiến sĩ thi đua Quân khu Trị Thiên Huế tổ chức ở rừng dốc Cao Bồi. Tháng 12-1971, tôi được báo cáo thành tích cá nhân tại Đại hội chiến sĩ thi đua Sư đoàn 324 ở Khe Bang và được sư đoàn đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cùng với Dương Quang Bổ và Biện Văn Thanh. Đại tá Lê Minh Khuê, nguyên Chính trị viên Đại đội 2, nói với tôi: “Sau thành tích chung nhiều năm, nhờ mốc son chói lọi là trận Cô Pung mà Đại đội 3 được tuyên dương Anh hùng LLVT Giải phóng ngày 20-12-1972, Tiểu đoàn 54 được tuyên dương Anh hùng LLVT Giải phóng ngày 20-12-1973 và em được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân ngày 10-8-2015”. Nhưng tôi nghĩ, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể đã ngấm vào tim óc của bộ đội phòng không chúng tôi...

ĐẶNG THỌ TRUẬT