Nhận được tin, con gái cả của liệt sĩ là chị Trần Thị Quỳnh, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Điệp Nông, huyện Hưng Hà đã viết một lá thư gửi cho người cha yêu quý đã hy sinh cách nay 39 năm. Lá thư xúc động của con gái liệt sĩ, cũng là tình cảm của biết bao người con liệt sĩ khác trên đất nước Việt Nam với người cha đã hy sinh vì độc lập, tự do của đất nước.

Bố Trần Ngọc Chung kính yêu của con!

Vậy là bố đi xa mẹ và chị em con đã 39 năm. Con gái của bố nay cũng đã hơn 50 tuổi. Cháu trai của bố cũng đã tốt nghiệp đại học và đi làm. Niềm nhớ thương bố của các con lớn bao nhiêu thì nhìn mẹ, con càng thấy mẹ yêu thương và nhớ bố bấy nhiêu. Khi bố hy sinh ở chiến trường Tây Nam con mới 13 tuổi, em gái con mới 10 tuổi, còn mẹ con mới ngoài 30 tuổi. Đằng đẵng ngần ấy năm trời, mẹ gồng mình nuôi chúng con khôn lớn, dạy chúng con như lời bố dặn dò ngày xưa trước khi ra trận. Hằng đêm, mẹ ngồi ôm di ảnh bố vào lòng, nói chuyện với bố điều gì đó mà chúng con không nghe thấy được. Thế là chúng con tỉ tê hỏi mẹ. Mẹ cười, mẹ như trẻ lại và kể nhiều lắm về bố cho con cháu nghe. Mẹ kể:

“Thời gian bố mẹ tìm hiểu nhau vội vàng nhanh chóng lắm, từ lúc biết nhau đến khi ăn hỏi chỉ có 8 ngày thôi. Lý do quen biết cũng thật đơn giản: Hai bà mẹ là bạn thân của nhau rồi “mối lái” cho hai con. Lần gặp đầu tiên là vào một buổi chiều mùa hè, khi mẹ đang làm cỏ ở ngoài vườn thì bố đến. Bà ngoại gọi mẹ vào giới thiệu: “Đây là anh Chung xóm Đền đến chơi với nhà mình, con vào rót chén nước mời anh đi”.

leftcenterrightdel
Liệt sĩ Trần Ngọc Chung.

Hai người gặp nhau. Mẹ có cảm tình với bố ngay vì khi nhìn đôi mắt thấy rất chân thật. Cặp mắt sáng linh lợi, quyết liệt. Còn bố sau này nói lại với mẹ là: “Lần đầu nhìn thấy em là thích rồi vì em xinh xắn và dịu dàng”. Lúc đó bố là sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn, còn mẹ như trẻ con mới lớn. 

Cưới nhau được một tuần thì bố trả phép về đơn vị tại Kiến An, Hải Phòng. Thời gian sống chung thật ngắn ngủi nhưng tình cảm của bố dành cho mẹ rất nhiều. Nhớ nhất là đợt mẹ ra Kiến An chơi 10 ngày. Sáng nào bố cũng dậy sớm từ 4 giờ để tập luyện, khi mẹ dậy đã thấy một chậu nước và một khăn mặt để sẵn đấy cho mẹ rồi. Bố con bận nhưng chu đáo lắm. Khi mẹ về chắc bố rất buồn, nhưng lúc mẹ khóc, bố lại cười pha trò bảo: “Em có hàm răng là đẹp nhất, anh thích nhìn nhất khi em cười. Em là vợ bộ đội, không khóc mà chỉ có xung phong và xung phong thôi”.

 Cứ sau mỗi lần bố nghỉ phép thì mẹ cảm thấy mọi thứ trong nhà như chắc chắn hơn. Bố buộc lại từ cái nia, cái sàng cho mẹ, chêm lại cái cối giã gạo, lợp lại mái bếp cho gia đình. Mẹ nhớ lần cuối cùng lợp bếp, ấy là cuối năm 1975. Bố là Tham mưu phó Sư đoàn 320 từ Sài Gòn về phép. Bố cười nói: “Hôm nay mẹ nó mượn được hẳn thợ Sài Gòn về làm là phải cho ăn tử tế và cho về sớm vì nhà xa đấy”. Bố các con ăn uống rất đơn giản chẳng cầu kỳ, nhưng bữa cơm nhất định phải có cốc rượu dầm. Biết vậy nên mẹ trồng cả ba miếng đất màu cây sinh địa rồi mang sấy khô để nấu thành thục và gửi đi cho bố ngâm rượu uống vì rượu thục uống tốt cho sức khỏe. 

 Con hỏi mẹ, ngày trẻ mẹ và bố yêu nhau nhiều lắm mẹ nhỉ? Mẹ bảo: “Mẹ cũng không biết nữa, chỉ biết rằng khi xa thì nhớ và lo lắng lắm, còn ở gần thì mẹ thấy rất vui”. Ôi, đã từng làm mẹ rồi, nay làm mẹ chồng mà qua lời kể của mẹ về bố con cảm động vô cùng. 

Khi con đã lớn, con được đọc cuốn Lịch sử Trung đoàn 64, Sư đoàn 320. Con cứ tìm đến trang có tên bố Trần Ngọc Chung mà đọc, mà khóc, mà sung sướng tự hào. Bố ơi, con đã thuộc lòng những gì mà lịch sử một trung đoàn anh hùng viết về bố. Đây này bố ơi: “Trung tướng Khuất Duy Tiến kể: “Lúc ấy tôi là Phó trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng, tôi được anh Trịnh Ngọc Thái, Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ đi với Tiểu đoàn 7 đánh địch trên hướng Động Mã vì đây là trận đầu trung đoàn chạm trán quân Mỹ. Tôi xuống Tiểu đoàn 7, gặp Tiểu đoàn trưởng Trần Ngọc Chung…”.

leftcenterrightdel
Trung tướng Khuất Duy Tiến và chị Trần Thị Quỳnh viếng liệt sĩ, Anh hùng LLVT nhân dân Trần Ngọc Chung tại quê nhà (xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Ảnh: TRỌNG LUÂN

Đó là mùa xuân năm 1968, khi ấy con mới hai tuổi. Lúc con bi bô tập nói thì bố đang chìm dưới mưa bom bão đạn của quân Mỹ trên Đường 9, Quảng Trị. Con kể tiếp cho bố đây:

“Sau một ngày chiến đấu liên tục, Tiểu đoàn trưởng Trần Ngọc Chung đã chỉ huy Tiểu đoàn 7 lập công xuất sắc, tiêu diệt 8 xe quân sự, 2 xe tăng và diệt hơn 100 tên Mỹ. Ngay tối 24-1-1968, Sư đoàn trưởng Sùng Lãm điện chỉ thị Trung đoàn 64: Tiếp tục cho Tiểu đoàn 7 củng cố trận địa, phải thực hiện bằng được cắt Đường số 9, tiêu diệt quân giải tỏa, cô lập lực lượng quân địch ở Khe Sanh để chủ lực mặt trận tiêu diệt chúng.

Trung tướng Khuất Duy Tiến kể: “Ngay khi nhận lệnh của Sư đoàn trưởng Sùng Lãm, chúng tôi lên kế hoạch đánh cắt giao thông Đường 9 cho tiểu đoàn anh Chung đoạn cầu Thiện Xuân-Động Mã trong ngày 25-1-1968. Buổi chiều, Mỹ điều tiểu đoàn 3, lữ đoàn 4 lính thủy đánh bộ từ Đông Hà ra Cam Lộ và đưa tiểu đoàn 2, lữ đoàn 4 lính thủy đánh bộ từ Dốc Miếu về gần căn cứ 241 thực hiện ý đồ phải chiếm được cao điểm 105 để rồi tấn công dãy chốt Động Mã của Tiểu đoàn 7. Nắm được tình hình địch, tôi điện gọi anh Trần Ngọc Chung:

- Hiện nay thằng tiểu đoàn 2, lữ đoàn 4 đang vào cao điểm 105. Trung đoàn dùng tiểu đoàn của anh và Tiểu đoàn 8 của anh Cẩn tập kích bọn Mỹ ngay trong đêm.

Anh Chung chỉ huy bộ đội hành quân ngay trong đêm tối, mặc dù hai ngày qua Tiểu đoàn 7 đánh địch liên tục nhiều trận. 4 giờ sáng, trinh sát báo cáo thấy công sự địch đào dở, ba lô hòm đạn còn trong hố, có thể lính Mỹ ẩn nấp đâu đây. Anh Chung bò lên 50 mét thì phát hiện quân Mỹ căng bạt nằm ngủ, súng ống vứt bừa bãi. Lúc này chỉ có Tiểu đoàn 7 tiếp cận địch, còn Tiểu đoàn 8 chưa bắt được liên lạc. Trần Ngọc Chung hội ý với chính trị viên và quyết định nổ súng không đợi cánh quân của anh Cẩn nữa.

Đúng 5 giờ sáng 27-1, Tiểu đoàn trưởng Trần Ngọc Chung hạ lệnh nổ súng. B40, B41, cối 60, cối 82, lựu đạn… đồng loạt trút vào quân Mỹ. Ngay từ phút đầu địch bị diệt phần lớn. Tiểu đoàn 7 xông lên dùng AK và lưỡi lê vừa bắn vừa đâm. Trận đánh diễn ra có 20 phút, phần lớn quân Mỹ bị tiêu diệt, số ít còn lại chạy về căn cứ 241. Thế là ý định ra chiếm cao điểm 105 của chúng thất bại…”.

Bố đánh giặc dũng cảm bao nhiêu thì với các con, bố nhân hậu bấy nhiêu. Mỗi lần bố về phép là mỗi lần chúng con vỡ òa hạnh phúc. Khi bố con ngồi chơi với nhau, bố hỏi việc học hành, bạn bè ở lớp, chơi thân với bạn nào. Bố khuyên: “Con phải có bạn thân vì bạn sẽ giúp con tiến bộ”.

Con nhớ mãi một lần bố giữ xe đạp cho con tập, không may gấu quần giắt vào xích làm quần bị rách, xích bị tuột. Con khóc và không tập nữa. Bố bảo: “Con không được khóc, con gái của bố phải kiên cường chứ, tập xe là để cho mình đi nhanh hơn tại sao lại nhụt chí thế”. Rồi bố dạy con cách lắp xích khi bị tuột và động viên con tiếp tục tập xe. Bố bảo: “Khi ngã đau con vẫn phải cố gắng đứng dậy, sau mỗi lần ngã sẽ khôn hơn. Con phải học cách sống khi không có bố bên cạnh...”. 

Bố ơi, con không thể ngờ rằng đó lại là lời bố dặn con trước khi cha con biệt ly! 

Ngày bố hy sinh ở Mặt trận Tây Nam, mẹ con khóc hết nước mắt. Mẹ héo hon và hai đứa con gái của bố khăn quàng đỏ cũng ướt đầm nước mắt mỗi khi đứng xếp hàng ở sân trường. Chúng con lại tìm đọc về bố. Bấy giờ chỉ có mấy dòng ngắn ngủi trong cuốn Biên niên sử Đại đoàn Đồng Bằng (Sư đoàn 320) và vài dòng trên giấy báo tử thôi. Con nhớ mấy dòng đó thế này:

“Ngày 18-2-1979, đồng chí Thượng tá Trần Ngọc Chung, Phó sư đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Sư đoàn 320 hy sinh ở chiến trường Campuchia khi đang trên đường xuống kiểm tra và trực tiếp chỉ huy chiến đấu”.  

Bố hy sinh rồi, đồng đội của bố vẫn luôn về thăm bố ở nghĩa trang liệt sĩ xã nhà. Bác Trung tướng Khuất Duy Tiến lúc nào về thăm bố cũng khóc. Các chú, các bác kể bố nóng tính nhưng rất tình cảm và rất yêu thương đồng đội, đặc biệt là rất dũng cảm ngoài chiến trận.

 Con gái của bố

TRẦN THỊ QUỲNH