Tháng 7-1972, sau ba tháng làm nhiệm vụ bảo vệ thị xã Xa-la-vẳn, đại đội súng máy cao xạ 12,7mm chúng tôi bàn giao địa bàn cho đơn vị bạn, hành quân về bờ bắc sông Sê-đôn chuyển loại vũ khí mới, đó là pháo cao xạ 23mm-2 nòng. Sau một thời gian huấn luyện, bắn đạn thật và trực tiếp chiến đấu một số trận, chiều 15-10, đơn vị nhận lệnh phối thuộc cùng Trung đoàn 39 bộ binh tham gia Chiến dịch Không Sê-đôn. Từ sau khi Sư đoàn 968 giải phóng Không Sê-đôn, địch tung nhiều trung đoàn bộ binh phản kích hòng chiếm lại nhưng đều thất bại. Cuối mùa mưa 1972, để giành lại thế mạnh trước khi có giải pháp chính trị về Lào, địch dốc sức phản kích, thực hiện bước hai cuộc hành quân “Sư tử đen” chiếm lại Không Sê-đôn. Ta vẫn gặp khó khăn về vận chuyển tiếp tế trong mùa mưa nên tạm thời giãn ra vòng ngoài, vừa bám nắm địch vừa chuẩn bị thế trận cho chiến dịch mùa khô 1972-1973.

leftcenterrightdel
Xạ thủ Bùi Thiện Tân (bên trái) và tác giả thời quân ngũ, năm 1976. Ảnh tư liệu. 


Chiều tối 16-10, chúng tôi hành quân đến bản Keng Kú nhưng không bắt liên lạc được với đơn vị bạn mà còn đụng bộ binh địch, may mắn không có thương vong xảy ra. Ở Nam Lào, địch đồng loạt đổ quân hòng chiếm lại thị xã Xa-la-vẳn, Pắc-xòng, Tha-teng, Không Sê-đôn trước khi có một giải pháp chính trị về Lào nên phương án tác chiến có sự thay đổi. Các đơn vị chỉ để lại những phân đội nhỏ bao vây, cầm chân địch, còn phần đông lực lượng Sư đoàn 968 hành quân về tham gia chiến dịch giải phóng thị xã Xa-la-vẳn. Trước tình hình đó, chúng tôi cơ động về bản Keng Nnọi, cách Keng Kú khoảng 30km và triển khai hai khẩu đội sẵn sàng chiến đấu trong khi chờ lệnh mới của cấp trên.

Rạng sáng 18-10, mọi công tác chuẩn bị chiến đấu đã xong. Khẩu đội 1 gồm xạ thủ số 1 Trần Việt Dũng, xạ thủ số 2 Hoàng Mạnh Hùng, do anh Nguyễn Văn Hay, Trung đội phó chỉ huy. Khẩu đội 2 gồm xạ thủ số 1 Bùi Thiện Tân, tôi là xạ thủ số 2, do anh Hồ Sĩ Can, Trung đội phó chỉ huy. Trực chỉ huy là Đại đội trưởng Trương Chính Trung và trinh sát Nguyễn Quang Thu. Khoảng 10 giờ sáng, địch cho máy bay trinh sát L19 và OV10 bay lượn suốt hai tiếng đồng hồ nhằm tìm kiếm, phát hiện mục tiêu. Có lúc chúng sà thấp, dùng súng 12,7mm bắn săm soi nhưng chúng tôi vẫn giữ bí mật trận địa. Khi phát hiện có tiếng động cơ máy bay, chúng tôi được lệnh vào vị trí cấp 1. Mỗi lần máy bay bổ nhào ném bom, chúng tôi bắn từ 2 đến 3 điểm xạ. Đến loạt bổ nhào thứ 5, chúng tôi đã bắn rơi một máy bay T28. Lúc đó, chúng đã phát hiện ra lực lượng phòng không nên gọi F4H đến “thay ca”. Khi vừa bắn xong hai điểm xạ thì tôi chỉ nghe tiếng “bục” và không còn biết gì nữa. Lúc dần tỉnh lại, cố gắng mở mắt nhưng không sao mở nổi, tất cả là một màu tối đen, toàn thân đau ê ẩm. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê ấy, tôi biết Tân đã bị thương, muốn nói với anh Can lấy băng cá nhân ở túi áo băng cho Tân mà không nói được. Đến khi tôi mở được mắt ra thì anh Can mới tin rằng tôi còn sống. Quả bom nổ ngay đầu càng pháo nhưng thật may mắn cho chúng tôi vì đó là quả bom phát quang nên chúng tôi chỉ bị sức ép.

Lúc này pháo đã hỏng, không thể tiếp tục chiến đấu. Sau hơn hai tiếng đồng hồ hứng chịu những trận bom và rốc két của các tốp F4H, bầu trời yên tĩnh trở lại. Chúng tôi lao sang hầm bên cạnh thì may mắn sao, cả kíp trực đều an toàn.

Chiều tối hôm đó, địch tập kích vào khu vực trận địa, chúng muốn tiếp cận để nắm được thiệt hại của phía ta. Lúc này, mỗi khẩu pháo đã sửa tạm được một nòng, chúng tôi hạ thấp nòng, bắn hơn 100 viên đạn về phía địch, sau đó tập trung đẩy từng khẩu pháo ra vị trí xe đã chờ sẵn. Ngay trong đêm đó, nhận lệnh cấp trên, chúng tôi lên đường tham gia Chiến dịch Xa-la-vẳn ở khu vực ngã ba Na Đôn Khoảng.

Đó là một ngày đáng nhớ không chỉ vì hôm đó chúng tôi đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ đầu tiên trong chiến dịch kéo dài 128 ngày đêm ở Nam Lào (từ ngày 18-10-1972 đến 22-2-1973) mà cùng với tình bạn chiến đấu thì sau này tôi và Bùi Thiện Tân còn có thêm tình anh em thân thiết.

LÊ AN KHÁNH