Tổ có 9 người, trong đó Lê Hoài (tên thật là Lê Hoài Thao, quê ở Hải Dương) là một thành viên. Tình cờ, đúng 15 giờ 15 phút ngày 28-11-1964, có cô nữ sinh vừa tốt nghiệp cấp 2 đến bệnh xá (hồi đó tuyến huyện chưa có bệnh viện) khám sức khỏe để đi học chuyên nghiệp. Cô tên là Phạm Thị Hạ (tên thật là Phạm Thị Hợi, sinh ngày 24-2-1947). Hạ có sắc đẹp, tính tình đoan trang, đôn hậu, thùy mị khiến Lê Hoài như bị hút mất hồn. Quả thật, Hoài đã đi nhiều nơi, gặp nhiều người nhưng chưa thấy ai đẹp như Hạ, xinh như Hạ…

leftcenterrightdel
Phạm Thị Hợi năm 17 tuổi.

Mấy ngày sau, Lê Hoài tìm đến Hạ. Đường từ Bệnh xá Nho Quan đến nhà Hạ chưa đến 1km. Hạ tiếp đón Lê Hoài một cách thân tình, cởi mở. Rồi từ đó, họ thường xuyên gặp nhau. Khi thì Hoài đến nhà Hạ, khi thì là những lá thư trao đi trao lại như những cánh én. Cứ thế cho đến ngày 26-3-1965, theo lệnh của trên, Hoài cùng 48 anh em khác lên đường nhập ngũ, bổ sung lực lượng chuyên môn cho chiến trường. Hoài đi một mạch đến thẳng vùng chiến sự ác liệt-tuyến lửa Quảng Bình. Đây là lá thư cuối cùng trên đất Bắc-cũng là lời từ biệt trước lúc lên đường Hoài viết cho Hạ:

Nam Định, 19 giờ ngày 25-3-1965

Chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa thôi là anh tạm xa thành phố Nam Định thân yêu đã gắn bó với anh trong những tháng năm học tập ở nơi này. Anh và các bạn sẽ đi chuyến tàu xuôi đến nơi nào đó chưa rõ làm nhiệm vụ quang vinh mà Tổ quốc giao phó. Từ đây, anh bắt đầu làm “anh bộ đội sao trên mũ”, môi trường này chắc rất giàu thử thách vẻ vang đấy, em ạ!...

Khi hành quân đến điểm chốt cuối cùng, nhận công tác và nhiệm vụ cụ thể, Hoài viết:

Đồng Hới, ngày 20-5-1965

Em!

…Cuộc hành quân của anh vô cùng thú vị. Nằm trên xe không mui, nhìn sao trời lấp lánh; tai nghe gió thổi vi vu, cảm giác lâng lâng, tâm hồn rạo rực. Hai tiếng “ra đi” gợi nhớ và xuất hiện trong anh một “ý niệm” mới về cuộc sống. Anh và bao thanh niên ra đi bảo vệ đất nước, bảo vệ cuộc sống thanh bình cho người dân lao động; bảo vệ hạnh phúc cho bao lứa đôi; cho bao cô gái trinh trắng được bảo toàn trong “lửa yêu đương”; cho bao em thơ được cắp sách đến trường, yên vui học tập. Ra đi còn có ý nghĩa khác: Làm trai hồ thỉ bốn phương/ Sao cho tỏ mặt thiếu niên anh tài. Vì vậy, lẽ nào lại khoanh tay, ngồi nhìn đất nước bị quân thù giày xéo!

Và dù đóng quân cách quê Hạ tròn 400km, đường sá xa xôi cách trở, chiến tranh ngày càng ác liệt, Lê Hoài vẫn tranh thủ viết thư gửi về cho Hạ đều đặn mỗi tháng. Nhưng thư đi thì có, thư về thì không. Cho đến một ngày đầu tháng 7-1965, Hoài định viết lá thư thứ sáu thì bất ngờ nhận được thư của Hạ sau đúng 5 tháng vắng tin và xa bóng Hạ.

Nhận được tin Hạ, Lê Hoài nửa vui, nửa buồn và cũng cảm nhận được tấm lòng của Hạ dù Hạ trách anh đủ điều, rằng sao Hoài không viết thư cho Hạ (dẫu Hạ vẫn nhận được đầy đủ những lá thư Hoài gửi về từ giờ phút anh bước chân lên tàu nhập ngũ. Ấy là sau này, Hạ mới nói thật). Trong lá thư này, Hạ kể:

Chỉ mấy ngày sau khi anh và các bạn anh nhập ngũ, thanh niên thị trấn Nho Quan cũng nô nức lên đường tòng quân giết giặc, cứu nước. Nhìn cảnh người thân, anh em, bè bạn, người yêu đưa tiễn nhau, em tưởng trái tim mình vỡ ra từng mảnh; chạnh lòng nhớ lại buổi gặp nhau lần cuối trên đất Bắc: Anh đi không một tiếng cười/ Không câu từ biệt, không người tiễn đưa. Em đã khóc vì ngày anh đi, em đã không đưa tiễn mà còn lạnh lùng, hờ hững lúc chia tay...

Thời gian cứ trôi đi trong nhớ thương như thế. Cho đến lá thư thứ hai gửi vào, Hạ tuyên bố một câu “xanh rờn”: Nghĩ đến tương lai, tin rằng anh sẽ có ngày trở về nên em đồng ý yêu anh. Mong anh yên tâm hoàn thành nhiệm vụ, chiến thắng trở về. Em đợi!... Dù thời gian trôi đi nhớ thương. Dù đời, hoa vàng phai, úa tàn nhưng màu tím không tàn trong ta. Dù năm tháng có tạo thêm nếp nhăn trên trán. Sự xa cách có kéo dài, em vẫn yêu anh mãi mãi, không bao giờ thay lòng đổi dạ.

leftcenterrightdel
Lê Hoài Thao ngày nhập ngũ (26-3-1965). Ảnh tư liệu

Bất ngờ nhận được lời yêu-lời tỏ tình mộc mạc, chân thật của Hạ, Hoài vô cùng xúc động, trong lòng tràn ngập niềm vui bởi tuy đã quen nhau ba tháng, thân tình là thế nhưng hai người chưa dám thổ lộ lòng mình, chưa thốt nên lời nào, rằng em yêu anh hay anh yêu em, mà chỉ ở cái ngưỡng mến và thích nhau mà thôi. Giờ đây, Hoài yên tâm vì ở hậu phương đã có điểm tựa để anh vững tâm tập trung tư tưởng, tâm trí vào nhiệm vụ của người chiến sĩ nơi trận tuyến, ngày đêm giáp mặt quân thù. Phần Hạ, cô cũng kiên tâm chờ đợi người đi xa, vừa dạy học vừa tranh thủ viết thư động viên Hoài trong suốt thời gian xa cách…

Sau năm 1973, Hoài trở về nguyên vẹn hình hài. Như vậy là gần 10 năm, cả Hoài và Hạ kiên tâm chờ đợi như hai người đã hứa hẹn, nhằm ngày 7-5-1974, họ làm lễ thành hôn trong niềm hân hoan của cả hai gia đình, họ mạc. Ôn lại những năm tháng đã qua, lòng vui như mở hội, Hạ mang toàn bộ hơn 200 lá thư Hoài gửi cho cô với tấm lòng yêu thương và quý trọng, ôn lại những kỷ niệm không thể nào quên...

THẾ NHÂN